Tranh cãi Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam năm 2017


Tranh cãi xung quanh Bảng xếp hạng 49 trường Đại học hàng đầu Việt Nam được 6 chuyên gia độc lập công bố ngày 4/9/2017. Danh sách thu thập dữ liệu với hơn 100 cơ sở giáo dục tại Việt Nam với nhiều tiêu chí đánh giá. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn không tránh khỏi những ý kiến trái chiều, đặc biệt về chất lượng nguồn dữ liệu mà 6 chuyên gia thu thập. Yêu Tri Thức .com sẽ gửi tới độc giả Danh sách đầy đủ Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam năm 2017 và những phân tích của giới chuyên gia.

Tranh cãi Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam năm 2017 1
Đại diện nhóm nghiên cứu trao đổi với báo chí

Nhóm nghiên cứu độc lập gồm 6 vị


Đây là những người tiên phong trong việc xếp hạng Cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Họ đều có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ và còn ở độ tuổi khá trẻ. Nhóm xây dựng bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam gồm:

1.Tiến sĩ Lưu Quang Hưng: Nhà nghiên cứu tại Melbourne, Australia. Chủ biên Báo cáo xếp hạng.

2.Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Anh: Giám đốc và nhà kinh tế trưởng DEPOCEN, Đồng chủ biên Báo cáo xếp hạng.

3.Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Nhà nghiên cứu độc lập, Giám đốc GiapGroup, Đề xuất Báo cáo xếp hạng.

4.Tiến sĩ Ngô Đức Thế: Nhà nghiên cứu tại Đại học Manchester, Anh, Thành viên.

5.Thạc sĩ Trần Thanh Thủy: Nhà nghiên cứu tại DEPOCEN, Thành viên.

6.Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền: Nghiên cứu sinh tại Đại học East Anglia, Anh. Thành Viên.

Ngoài ra, GS Trần Nam Bình (Đại học New South Wales, Australia), GS Lê Văn Cường (Đại học Paris 1, Pháp) đã cố vấn và góp ý để hoàn thiện báo cáo.

Tranh cãi Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam năm 2017 2
6 nhà nghiên cứu độc lập

Nhóm chuyên gia độc lập cho biết đã tiến hành xếp hạng các trường Đại học Việt Nam trong vòng 3 năm với tiêu chí xây dựng bảng xếp hạng phù hợp với Việt Nam, mang tính khách quan và hướng tới chuẩn Quốc tế.

Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam gây tranh cãi

Cơ sởgiáo dụcđại học Điểmxếp hạng
tổng thế
Vị trí xếp hạng
Tổng thể Nghiên cứu khoa học Giáo dục và đào tạo Cơ sở vật chất và quản trị
ĐH Quốc gia Hà Nội 85.3 1 2 1 1
ĐH Tôn Đức Thắng 72.0 2 1 5 24
Học viện Nông nghiệp Việt Nam 70.6 3 4 8 6
ĐH Đà Nẵng 68.7 4 6 4 18
ĐH Quốc gia TP.HCM 67.8 5 5 2 39
ĐH Cần Thơ 64.6 6 12 6 3
ĐH Bách khoa Hà Nội 64.1 7 7 11 25
ĐH Huế 62.2 8 14 3 15
ĐH Duy Tân 61.1 9 3 16 46
ĐH Sư phạm Hà Nội 60.4 10 9 13 20
ĐH Quy Nhơn 59.6 11 8 22 22
ĐH Mỏ – Địa chất 57.8 12 15 10 26
ĐH Sư phạm Hà Nội 2 56.9 13 10 34 4
ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM 56.7 14 13 25 10
ĐH Lâm nghiệp 56.4 15 17 17 9
ĐH Thủy lợi 56.4 16 16 18 11
ĐH Thái Nguyên 54.2 17 20 7 34
ĐH Y – Dược TP.HCM 53.3 18 18 40 2
ĐH Xây dựng 52.9 19 27 9 23
ĐH Y Hà Nội 51.2 20 11 44 19
ĐH Vinh 50.4 21 24 15 30
ĐH Công nghiệp Hà Nội 50.2 22 19 23 37
ĐH Ngoại thương 47.3 23 25 35 17
ĐH Công nghiệp TP.HCM 46.1 24 21 20 48
ĐH Đà Lạt 45.9 25 28 37 12
ĐH Giao thông Vận tải Hà Nội 45.7 26 26 12 49
ĐH Hàng hải 45.1 27 37 24 7
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 44.1 28 23 28 45
ĐH Thương mại 43.4 29 41 14 5
ĐH Kinh tế Quốc dân 43.3 30 29 19 43
ĐH Kiến trúc TP.HCM 41.4 31 33 43 13
Trường ĐH Luật TP.HCM 41.3 32 34 45 8
ĐH Tây Nguyên 40.6 33 32 29 36
ĐH Kiến trúc Hà Nội 39.7 34 35 26 40
ĐH Dược Hà Nội 39.6 35 22 48 27
ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM 39.5 36 36 31 33
ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 39.0 37 31 32 42
ĐH Hoa Sen 37.3 38 30 36 47
ĐH Hà Nội 36.6 39 40 41 16
Học viện Tài chính 36.0 40 44 27 14
ĐH Sư phạm TP.HCM 35.8 41 38 38 32
ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 35.5 42 39 33 29
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 29.7 43 49 21 31
ĐH Y – Dược Thái Bình 27.4 44 48 30 28
Học viện Ngoại giao 26.3 45 43 47 21
ĐH Luật Hà Nội 24.4 46 46 39 44
Học viện Ngân hàng 24.2 47 47 42 38
ĐH Văn hóa 23.7 48 45 46 35
ĐH Y – Dược Hải Phòng 23.2 49 42 49 41

Điều gây tranh cãi ở Bảng xếp hạng 49 Đại học Hàng đầu tại Việt Nam là việc các trường “trẻ” như ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Duy Tân lại có mặt trong top 10, còn các trường ĐH khối kinh tế lại có vị trí khá thấp dù cũng thuộc hàng tên tuổi, như Ngoại Thương chỉ đứng thứ 23, còn Thương mại là 29, Kinh tế Quốc dân 30, HV Tài chính 40 và HV Ngân hàng 47.

TS Lưu Quang Hưng, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết đã thu thập dữ liệu của hơn 100 trường Đại học tại Việt Nam và sắp xếp trên cơ sở đã có số liệu đầy đủ của 49 cơ sở đài tạo. Nhóm không đưa vào danh sách các trường An ninh, Quân đội và các cơ sở mới thành lập vì thiếu các số liệu công khai.

Tiêu chí quyết định lớn đến thứ hạng gồm 40% là Nghiên cứu khoa học, 40% thuộc Giáo dục Đào tạo và 20% quyết định bởi Cơ sở vật chất và quản trị.

  • Năng lực nghiên cứu khoa học: Đây là tiêu chí mà nhóm đánh giá có quan hệ mật thiết với số ấn phẩm khoa học của trường. Các nhà nghiên cứu lấy số lượng công trình khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế, chuyên ngành.
  • Giáo dục và đào tạo: Nhóm đánh giá chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưu trình độ năng lực giảng viên, năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành trường, chất lượng khung chương trình và một số yếu tố khác. Nhóm còn dùng số lượng cán bộ kể cả giảng dạy và nghiên cứu có trình độ tiến sĩ trở lên làm thước đo về chất lượng giáo dục. Ngoài ra còn bổ sung thêm lượng sinh viên và chất lượng đầu vào của họ.
  • Cơ sở vật chất và quản trị: Nhóm đánh giá cao các trường có cơ sở vật chất hiện đại, rộng rãi, thư viện tốt và không gian lớp học tháng. Nguồn thông tin tham khảo trong thư viện là rất quan trọng.

Chuyên gia chỉ ra những lỗ hổng của Bảng xếp hạng

TS Tạ Hải Tùng thuộc trường ĐH Bách khoa Hà Nội nêu ra những lo ngại về chất lượng dữ liệu mà nhóm tác giả Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam vừa công bố. Ông lấy ví vụ như chính Bách khoa là trường có cơ sở vật chất hiện đại, khuôn viên thuộc hàng thoáng nhất tại Hà Nội lại không được lọt top 20 trong tiêu chí cơ sở vật chất và quản trị.

Việc tính toán số bài báo trên giảng viên cũng cần lưu ý. Chẳng hạn như Trường ĐH Bách khoa Hà Nội có tới 2.300 cán bộ nghiên cứu nhưng trong đó có tới 700 cán bộ phục vụ thí nghiệm. Vì vậy, nếu chia số bài báo cho 700 cán bộ này thì không đúng vì họ không thể công bố quốc tế được“, TS Tùng còn chỉ ra thêm.

Ngoài ra, như việc nhóm tác giả gửi dữ liệu đã thu thập được lại cho trường để họ xác nhận thì có trường tỏ ra không quan tâm hoặc không “sốt sắng” cập nhật thông tin chính xác nên dẫn đến tính “chính danh” của dữ liệu. Chưa kể, nhóm nghiên cứu còn dựa vào báo cáo của các trường, mà thường báo cáo loại đó không mang tính khách quan. Tính minh bạch, công khai thông tin của Việt Nam cũng là câu hỏi đáng quan tâm. Ngay như số liệu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp sau 6 tháng của trường, nhóm cũng chỉ thu thập được của 15 cơ sở đào tạo.

Nhìn chung, còn nhiều tranh cãi quanh Bảng xếp hạng 49 trường Đại học Việt Nam năm 2017. Nhưng đây cũng là nỗ lực của nhóm 6 chuyên gia độc lập để thúc đẩy quá trình xếp hạng các trường đại học trong tương lai.