Chương 5: Lật lại một số vụ án khác


Kỳ  V: LẬT LẠI HỒ SƠ MỘT SỐ VỤ ÁN KHÁC

Sau khi Năm cam và đồng bọn bị bắt đã khai ra nhiều vụ án chúng đã gây ra trước đây cùng với các hành vi phạm tội khác, trong đó, chúng cũng khai về một số cán bộ chiens sĩ công an thuộc phòng cảnh sát hình sự, cảnh sát điều tra, công an một số quận đã bị chúng mua chuộc và làm tha hóa. Ban chỉ đạo chuyên án quyết định đình chỉ công tác một số cán bộ để Ban chỉ đạo chuyên án điều tra về hành vi tiếp tay, bảo kê cho những hoạt động
của Năm Cam . Trong số này có Dương Minh Ngọc nguyên trưởng phòng cảnh sát hình sự, Nguyễn Mạnh Trung, nguyên phó phòng cảnh sát điều tra, phụ trách điều tra trọng án và một số cán bộ chiến sĩ khác.

Nữ trùm đất cảng Dung Hà

Việc đình chỉ công tác và sau khởi tố bị can với những người như Ngọc, Trung … chứng tỏ sự kiên quyết đấu tranh làm trong sạch nội bộ của lãnh đạo Bộ Công An. Hai người náy bấy lâu nay, tên tuổi họ gắn liền với nhiều vụ điều tra trọng án lớn, có nhiều chiến công trọng việc đấu tranh chống tội phạm hình sự.

Chuyên Án Z501 Vụ án Năm Cam và đồng bọn khét tiếng giang hồ:

Chương 1: Sự khởi đầu của một chuyên án

Chương 2: Chiến dịch chỉ mặt đặt tên

Chương 3: Năm Cam và đồng bọn

Chương 4: Lật lại hồ sơ Năm Cam

Chương 5: Lật lại một số vụ án khác

Chương 6: Các vụ tổ chức đánh bạc của Năm Cam tại Sài Gòn (Chương cuối)

Ban chuyên án quyết định phục hồi điều tra một số vụ án, trong đó có vụ giết hại trung sĩ Phan Lê Sơn. Vụ án xảy ra như sau:

“khoảng hơn 1 giờ ngày 27.1.2000, tại quán Cấm Chỉ (số 4, đường Nguyễn Hải Triều, quận 1, thành Phố Hồ Chí Minh ) xảy ra vụ đâm đánh nhau đông người làm 2 người chết. Cơ quan điều tra công an thành Phố Hồ Chí Minh đã tiến hành giải phẫu tử thi và trưng cầu giám định pháp y kết luận:

Phan Lê Sơn, sinh năm 1976,Trung sĩ phòng cảnh sát hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh, ngụ tại 95/642 nguyễn kiệm , phường 3 quận gò vấp thành phố Hồ Chí Minh,vùng đầu có 9 vết thương rách da,toàn thân và tứ chi 14 vết thương rách da,có những vết thương làm đứt xương sườn ,thủng bao màng ngoài tim,thủng tâm thất phải tận cùng ở vách bên thất ,làm thủng cơ hoành phải, thủng thùy phải của gan. Khoang ngực và ổ bụng có khoảng hai lít máu cục và loãng. Nồng độ rượu trong máu là 1,4g/l.

Hồ Phước Hưng, sinh năm 1976,ngụ tại 66/9 quang trung, phường 11, gò vấp,có một vết thương rách da ở thắt lưng trái và một vết thương ở hạ sườn trái làm thủng mạc nối dạ dày , thủng mạc treo đại tràng ngng và thủng động mạch chủ bụng. Ổ bụng có khoảng 1 lít máu cục.

Sau khi vụ án xảy ra, công an thành phố đã tiến hành điều tra và đã có kết luận điều tra số 36-25/KLĐT- PC16(D4) ngày 8.5.2001 của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả điều tra và nội dung vụ án theo kết luận điều tra nói trên tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 1 giờ ngày 27.1.2000, các tên Nguyễn Hữu Thịnh, Văn Công Tiến (Khắc Sinh), Từ Anh Kiệt (út “lùn”), Huỳnh Anh Tuấn (Hùng “nhỏ”), Nguyễn Thị Kim Yến (bạn gái của Tiến) sau khi uống bia tại quán 136 Nguyễn Thái Học đi 4 xe máy đến quán cơm phở Hà Nội(quán Cấm Chỉ), số 4, đường Hải Triều để ăn khuya.
Đến trước cửa quán, pha đèn xe Suzuky Sport của Kiệt chiếu thẳng vào bàn ăn của các anh Phan Lê Sơn, Hồ Phước Hưng cùng các bạn gái (tất cả gồm 9 người) cũng đang ngồi uống bia, ăn khuya tại quán. Sơn đứng lên gây gổ, chửi, đánh Kiệt và rút chìa khóa xe Kiệt ném xuống đường. Thịnh lại can thiệp thì bị Sơn đá vô bụng. Sau đó mọi người can ngăn, Sơn về chỗ cũ ngồi.

Do bị Sơn đánh, Nguyễn Hữu Thịnh tức giận nên gọi điện thoại di động cho Bùi Anh Việt (Bảy Việt) đang ngồi nhậu cùng Nguyễn Văn Thọ (Thọ “đại úy”, cha của thịnh ), Phạm Văn Minh (Minh”bu”), Trương Tấn Phi, Trần Dương…ở quán 136 Nguyễn Thái Học. Thịnh nói với bảy việt rằng Thịnh đang bị đánh ở Phủ Kiệt (Hải Triều), nhờ Việt ra giúp. Sau khi nghe điện thoại của Thịnh, Bảy Việt nói lại cho Thọ biết, đồng thời rủ các tên Toàn , Dương, Phi ,Tùng( là người trông xe ở quán 136 Nguyễn Thái Học) lấy xe máy chạy ra Hải Triều.

Khi đến đường Hải Triều thì không gặp thịnh nên Bảy Việt tiếp tục chạy xe đi tìm, đến trước trụ sở cục hải quan thành phố trên đường Hàm Nghi thì cả bọn gặp tiến, yến,hùng,kiệt,tuấn. Bảy Việt gọi ĐTDĐ cho Thịnh hỏi Thịnh đang ở đâu, sau đó mở cốp xe Spacy lấy một con dao bấm đưa cho Tùng, đồng thời đưa cho các tên Toàn,

Dương, Phi mỗi tên một con dao nhọn và nói : Bây giờ không cần biết tụi nó là ai, vào quất (đánh)luôn. Bảy Việt gọi điện thoại cho Thịnh một lần nữa và biết Thịnh đang đứng chờ ở ngã ba đường Hải Triều – Nguyễn Huệ và đãn cả bọn chạy xe lại đường Hải Triều,

Đối với Nguyễn Hữu Thịnh, sau khi gọi điện báo cho Bảy Việt là mình bị đánh, y chạy xe spacy về quán 136 Nguyễn Thái Học vào bếp lấy 1 con dao nhọn giấu trong người. Khi đi qua bàn nhậu của Thọ và Minh đang ngồi, Thọ hỏi khuay rồi còn đi đâu, sao không về nhà ngủ? Thịnh nói bị đánh ở đường Hải Triều , sau đó chạy xe ra quán cấm chỉ…

Sau khi thịnh đi được một lúc, Nguyễn Văn Thọ, Phạm Văn Minh cũng biết việc Thịnh đi đến Hải Triều để đánh nhau nên Thọ lấy xe máy đi theo. Minh xuống bếp tìm hung khí thì được tên Nguyễn Hữu Chung (đầu bếp) đưa cho một con dao và ngồi sau xe máy do Nguyễn Hữu Chung điều khiển chạy theo thọ ra Hải Triều. Nguyễn Hùng Cường là chủ quán 136 Nguyễn Thái Học (con rể năm cam) cũng đi xe máy chạy theo Thọ ra đường hải triều.

Khi nhóm Bảy Việt gặp Thịnh ở ngã ba đầu đường Hải Triều – Nguyễn Huệ thì Bảy Việt, Thịnh dẫn đầu cùng đồng bọn chạy xe đến trước quán cấm chỉ, dừng lại và xuống xe,xông vào bao vây nơi sơn và các bạn đnag ngồi nhậu. Thịnh xông lại chỗ Sơn, rút dao giấu trong người đâm vào bụng sơn. Sơn đứng lên, giơ tay đỡ được vầ chạy vào phía trong nhà của quán cấm chỉ, Thịnh cùng đồng bọn dùng dao, vỏ chai bia đạp vỡ, ly , chén tại bàn đâm, đánh túi bụi vào các bạn của sơn làm cho họ chạy toán loạn, đòng thời bọn chúng hò hét, đuổi theo sơn vào trong quán.

Cùng lúc với việc Sơn bị đuổi đánh chạy vào trong quán, anh Hồ Phước Hưng là bạn ngồi cùng bàn cũng bỏ chạy, nhưng bị vấp té cuống gốc cây trước cửa quán Cấm chỉ thì bị tên Tùng đứng phía sau nắm tóc, kẹp cổ nâng lên, dùng dao bấm đam liên tiếp 2 nhát vào bụng anh Hưng, anh Hưng bị đâm gục ngay tại chỗ.

Trong lúc đâm, đánh hỗn loạn , các tên Nguyễn Văn Thọ , Trương Tuấn Phi cũng bị đồng bọn đâm nhầm bị trọng thương (Thọ bị tùng đâm thương ở sau lưng, Phi bị Thịnh đâm thương ở bụng). Phan Lê Sơn bị đánh ở trong quán cấm chỉ bỏ chạy ra ngoài, chạy trên vỉa hè theo hướng đường Hàm Nghi, cách quán Cấm chỉ khoảng 20 m thì bị các tên Bảy Việt, Nguyễn Hữu Chung chạy xe máy vượt lên chặn đường. tên Nguyễn Hùng Cường cầm dao chặn đầu buộc Sơn phải quay trở lại chạy theo hướng Nguyễn Huệ. Đến trước cửa quán phở Lan thì bị vấp té và bị các tên Minh, Cường, Chung ,Kiệt, Tiến ,Dương, Thịnh xông vào dùng chai, cốc đập, dao đâm rất nhiều nhát vào đầu,bụng,ngực,lưng,đùi…anh Sơn.

Thấy có đánh nhau, anh Nguyễn Văn Đông là chiến sĩ đội cảnh sát hình sự công an quận 1, ngụ tại quán phở Lan dùng súng bắn chỉ thiên nên cả bọn đang đánh anh Sơn bỏ chạy. tên Dương bỏ quên chiếc xe máy Kawasaki Max II tại hiện trường. Theo lời khai của các bị can, sau khi gây án và trên đường bỏ chạy bọn chúng đều vất dao tại hienj trường và trên dọc đường đi.

Cơ quan điều tra đã thu giữ tang vật và các phương tiên gồm :

1. 1 xe suzuku Sport màu đỏ, biển số 61F2-3663, Sk 406070 SM 1006070 do Từ Anh Kiệt sử dụng
2. 1 xe honda kawasaki,biển số 51T3-7918, SM AN090GEA27262 do Trần Dương sử dụng bỏ lại hiện trường
3. 1 xe Cagiva Speed, biển số 51F3 5263, SK 323-000704 SM 323-000704 của nạn nhân Phan Lê Sơn sử dụng tại hiện trường
Sau khi hoàn thành cuộc điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Viện kiểm soát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh truy tố 11 bị can gồm Nguyễn Hữu Thịnh, Bùi Anh Việt (Bảy Việt), Phạm Văn Minh (Minh”bu”), Trương Tấn Phi, Trần Dương,Hồ Thanh Tùng(Hai Lợi), Văn Công Tiến (khắc sinh), Nguyễn Hùng Cường (cường anh-con rể Năm cam), Từ Anh Kiệt(út lùn),Nguyễn Hữu Chung, Võ Song

Toàn về tội giết người theo quy định tại điều 101-BLHS năm 1985; đề nghị truy tố Nguyễn Thị Kim Yến tội che giấu tội phạm theo quy định tại điều 246-BLHS năm 1985, Huỳnh Anh tuấn (Hùng nhỏ) tội không tố giác tội phạm theo quy định tại điều 247-BLHS năm 1985; Nguyễn Văn Thọ (Thọ “đại úy”) tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điều 198-BLHS năm 1985(điều 245-BLHS năm 1999).
Theo kết luận điều tra và cáo trạng thì nguyễn HữuThịnh và Bùi Anh Việt là những tên chủ mưu, lôi kéo ,xúi dục đồng bọn tham gia thực hiện tội phạm, đồng thời là những kẻ tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Tên Phạm Văn Minh là tên thủ ác rất tích cực và hung hãn.
Ngày 1.2.2002, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo những yêu cầu sau đây:
– Theo kết luận điều tra và cáo trạng thì 2 vết thương trên người Hồ Phước Hưng do Hồ Thanh Tùng đứng ở phía sau, tay trái kẹp cổ anh Hưng nhấc bổng lên, tay phải dùng con dao bấm hình cây viết cài túi áo có 2 lưỡi sắc đâm vào bụng và sườn trái anh Hưng. Riêng phát đâm vào bụng, khi đâm bị can còn rạch ngang mới rút dao ra. Trong khi đó tại bản giải thích hung khí gây nên thương tích của nạn nhân Hưng (giải thích theo yêu cầu của cơ quan điều tra), Tổ chức giám định pháp y-pháp y tâm thần thành phố Hồ Chí Minh do bác sĩ Bùi Thanh Tuyền kí lại nêu thương tích trên người nạn nhân Hưng do 2 loại hung khí: Loại dao có 1 lưỡi sắc và loại dao có 2 lưỡi sắc(dao bấm) và kết luận là Hồ Phước Hưng bị đâm do loại dao bấm, thủ phạm đứng phía sau lưng nận nhân cũng có thể gây nên thương tích trên. Đề nghị thực nghiệm đeuf tra làm rõ.
+ Xác định vai trò của Bùi Anh Việt
+ Làm rõ nguồn gốc hung khí…
2. kết quả điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an
Sau khi Năm cam và nhiều tên đàn em là tội phạm nguy hiểm khác trong tổ chức tôi phạm do NĂm cầm đầu đã bị bắt, dư luận quần chúng nhân dân phản ảnh có một số vụ án nghiêm trọng đã xảy ra do năm cam hoặc đàn em, tay chân thân cận của Năm cam gây ra đã được các cơ quan tố tụng ở thành phố Hồ Chí Minh điều tra, kết luận và xử lý nhưng có nhiều dấu hiệu sai phamjtrong hoạt động điều tra, xử lí vụ án, dẫn đến việc bỏ lọt người , lọt tội.
Theo đề nghị của cơ quan cảnh sát điều tra Bộ cong an, Viện kiểm soát nhân dân tối cao đã ra quyết định chuyển các vụ án có dấu hiệu sai phạm trong hoạt động điều tra , xử lý và giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công An trực tiếp điều tra thụ lý. Trong đó có vụ án “Nguyễn Hữu Thịnh cùng đồng bọn phạm tội giết người, che dấu tội phạm, không tố giác tội phạm, gây rối trật tự công cộng (TTCC)”, xảy ra tại quán cấm chỉ, số 4 đường Hải Triều quận 1 ngày 27.1.2000. Mặc dù vụ án đã có kết luận điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhưng dư luận quần chúng , nhất là các cơ quan báo chí, thông tin đại chúng ở thành phố Hồ Chí Minh rất bất bình với kết quả điều tra, xử lý của các cơ quan tiến hành tố tụng ở thành phố Hồ Chí Minh cho rằng thủ phạm gây án là nhưng tên con ông cháu cha hoặc những tay đàn em thân cận của Năm cam nên ngay sau khi vụ án xảy ra đã có sự dàn xếp, can thiệp của năm cam vào quá trình điều tra, xử lý vụ án, làm sai lệch hồ sơ vụ án. Cầm đầu vụ án là Nguyễn Văn Thọ (tức thọ đại úy) cháu ruột của Năm cam (mẹ của Thọ là chị gái Năm cam). Thọ chỉ bị khởi tố về tội “gây rối trật tự công cộng” và được tại ngoại, bỏ lọt nhiều tên có hành vi “che dấu tội phạm” trong đó có Năm cam, Dương Ngọc Hiệp (Hiệp phò mã). Nguyễn Văn Thọ (Thọ đại úy) là tên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động tội phạm của Năm Cam đã bỏ trốn ngay sau khi Năm Cam bị bắt.
Xét tính chât đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp của vụ án, ban chỉ đạo liên ngành Trung Ương và ban chuyên án đã tập trung chỉ đạo cơ quan cảnh sát điều tra bộ công an khân trương điều tra , xác minh lại vụ này.
Ngay sau khi nhận hồ sơ của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trả lại để điều tra bổ sung, cơ quan điều tra bộ công an đã tiến hành trưng cầu Viện Khoa học hình sự bộ công an cử giám định pháp y có kinh nghiệm tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm, giám định pháp y để làm rõ các cơ chế hình thành dấu vết, thương tích, xác minh các loại hung khi gây lên thương tích trên người hai nạn nhân Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ ban đầu về vụ án, kết quả nghiên cứu thực nghiệm và giám định của pháp y viện khoa học hình sự và kết quả điều tra lại của cơ quan cảnh sát điều tra bộ công an có đủ cơ sở để kết luận nội dung vụ án sau khi đã được điều tra lại như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 26.1.2000, anh Lê Tâm Việt (chiến sỹ phòng Cảnh sát hình sự) ngồi ở quán cơm phở Hà nội (quán cấm chỉ), số 4 đường Hải Triều, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh gọi ddienj thoại cho anh Phan Lê Sơn(là chiến sĩ phòng cảnh sát hình sự rủ anh sơn đến Hải triều nhậu tiếp. Anh sơn đang ngồi nhậu cùng một số bạn tại đường Phạm Ngũ Lão- Quận gò vấp, sau khi nhận được điện thoại của anh việt đã rủ nhóm bạn gồm: Hồ Phước Hưng, Lê Trần Thịnh, Đào Văn Thành, Trần Văn Năng, Nguyễn Hoàng Lộc, Quách Ngọc Thanh (bạn gái sơn mới quen) đến quán cấm chỉ để nhậu tiếp và ăn khuya với Lê Tâm Việt. Tất cả nhóm bạn của sơn và việt (gồm 9 người, có cả nữ) ngồi chung một dãy bàn kê tại vỉa hè trước cửa quán “cấm Chỉ” sát kho bạc nhà nước, phía đường Nguyễn Huệ, cả nhóm uống bia Heniken và ăn phở.
Cũng trong buổi tối ngày 26.1.2000 các tên Nguyễn Hữu Thịnh, Huỳnh Anh Tuấn, Từ Anh Kiệt và Hùng lớn, Văn công Tiến, Nguyễn thị Kim Yến(bạn gái của tiến), Bùi Anh Việt, Trương Tấn Phi, Trần Dương, Võ Song Toàn (cả 3 do Bảy Việt gọi đến) và Lê Thị Hồng Ngọc chủ quán Tân Hải Vân (162 Nguyễn trãi-quận 1) ngồi nhậu chung bàn tại quán 136 Nguyễn Thái Học, quận 1. Đến hơn 1 giờ ngày 27.1, Nguyễn Hữu Thọ(Thọ đại úy), Phạm Văn Minh (minh bu) và một số phụ nữ bạn của thọ đến quán 136 Nguyễn Thái Học uống riệu nhưng ngồi riêng bàn khác. Nguyễn Hữu Thịnh khi thấy cha mình (thọ đại úy) đến thì bèn cùng các tên Kiệt , tiến, yến , tuấn, hùng lớn đứng dậy đi nơi khác. Còn lại ở lại quán 136 Nguyễn Thái Học, Bảy việt cùng các tên phi, dương , toàn,ngọc lại ngồi chung bàn với thọ và minh để tiếp tục nhậu.
Sau khi đưa hùng lớn về nhà riêng ở đoàn văn bơ, quận 4, Nguyễn Hữu Thịnh rủ mọi người ra đường Hải Triều để ăn khuya và nhậu tiếp. Thịnh đi một mình bằng xe Spacy màu lông chuột, Tuấn(hùng nhỏ) đi một mình bằng xe Spacy màu trắng (mượn của hùng lớn), tiến chở yến bằng xe Spacy màu trắng, kiệt đi một mình bằng xe suzuki Sport màu đỏ. Cả bọn đến quán Cấm Chỉ , số 4 đường Hải Triều, quận 1 vào khoảng 1 giờ 30 ngày 27.1.2000. Các tên Thịnh, Tiến, Yến, Tuấn đến trước ngồi vào bàn kế phía gần đường Nguyễn Huệ cách bàn của Phan Lê Sơn khoảng 4-5 m. Từ anh Kiệt đến sau, dọi pha đen vào bàn của Sơn đang ngồi. Thấy vậy sơn đứng dậy gây sự, cự cãi với Từ Anh Kiệt và tát vào mặt Kiệt 2 cái. Thịnh đứng dậy bước lại gần Sơn bị đá 1 cái trúng bộ hạ. Sơn còn tiếp tuck đá vào đùi trước và rút chìa khóa xe của Kiệt ném xuống đường. Thấy có đánh nhau, một sso bạn của Sơn (trong đó có anh Hưng) và chủ quán Cấm Chỉ là cô Đặng Thu Thơm ra can ngăn nên hai bên không ẩu đả nữa, ai về bàn người đó ngồi. Theo một số nhân chứng có mặt tại hiện trường lúc đó chứng kiến thì hành động của Sơn lúc đó như người đã say rượu bia, nen khi ngồi vào bàn Sơn vẫn tiếp tục nói to, chửi tục. Tức giận vì bị đánh đau , nên Nguyễn Hữu Thịnh gọi điện thoại di động cho Bùi Việt Anh (bảy Việt) nói cho Bảy Việt biết mình bị đánh ở Phủ Kiệt (Hải Triều) và kêu Bảy Việt giúp. Sau khi gọi điện thoại, Thịnh lấy xe bỏ đi, lúc đó là 1 giờ 36 phút ngày 27.1.2000, còn các tên Tiến, Kiệt, Tuấn ,Yến vẫn ngồi lại quán Cấm Chỉ nhưng không ăn uống gì.
Đang ngồi nhậu với Thọ “đại úy” thì Bảy Việt nghe điện thoại của Thịnh lúc 1 giờ 36 phút báo việc Thịnh bị đánh ở Hải Triều và kêu Bảy Việt. Bảy Việt nói lại cho Thọ và mọi người biết việc Thịnh bị đánh ở Hải Triều và bảo các tên Toàn,Dương ,Phi cùng ra Hải Triều gặp Thịnh để “giải quyết” việc đánh nhau. Bảy Việt sai Hồ Thanh Tùng (Hai Lợi) là người giữ xe của quán 136 Nguyễn Thái Học dắt xe Spacy màu trắng của Bảy Việt ra và bảo Tùng ngồi phía sau cùng đi ra Hải Triều với mình. Khi ra Hải Triều , Bảy Việt và Tùng không gặp Thịnh, chạy xe đến ngã 3 Hải Triều – Nguyễn Huệ thì Bảy Việt nghe điện thoại của Thịnh lần thứ hai (lúc 1 giờ 40 phút), đến trước cổng cục Hải quan thành phố góc đường Bach Đằng – Hàm Nghi thì gặp các tên Toàn, Dương, Phi , Tiến, Kiệt , Tuấn, Yến tất cả dừng lại. Tại đây, Văn Công Tiến nói với Bảy Việt “tụi nó giống hình sự lắm”, Bảy Việt nói “tụi nó là hình sự thì muốn đánh ai , thì đánh hả, đi ra quất luôn (đánh luôn)”. Sau đó Bảy Việt mở cốp Spacy lấy con dao bấm đưa cho Hồ Thanh Tùng, lấy áo gió đen đưa cho Trương Tuấn Phi mặ vào người, còn bản thân y lấy một bình xịt hơi cay màu vàng bỏ vào túi quần. Bảy Việt lấy điện thoại di động gọi lại cho Thịnh lúc 1 giờ 45 phút, biết Thịnh đang chờ ở ngã tư Nguyễn Huệ – Hải Triều nên dẫn cả bọn gồm Tùng, Toàn,

Dương,Phi, Tiến,Yến,Kiệt,Tuấn cùng ra đó theo hướng đường Nguyễn Huệ- Hải Triều. Với diễn biến nói trên , ngay từ đầu thể hiện rõ ý thức sử dụng vũ lực, bất chấp hậu qua của bọn chúng.
Nguyễn Hữu Thịnh sau khi gọi điện cho Bảy Việt, lấy xe chạy theo đường Nguyễn Huệ-Bạch Đằng – Hàm Nghi với mục đích là gặp Bảy Việt nhưng không gặp, nên y chạy xe veef quán 136 Nguyễn Thái Học và gặp cha mình là Nguyễn Văn Thọ (Thọ “đại úy”) đang ngồi nhậu với Phạm Văn Minh và Lê Thị Hồng Ngọc (chủ quán Tân Hải Vân)…, ngoài ra còn gặp Nguyễn Hùng Cường (Cường Anh – chủ quán 136 Nguyễn Thái Học) là con rể Năm cam đứng ở ngoài. Thọ hỏi Thịnh “sao giờ này chưa về, đi đâu vậy”, Thịnh trả lời “con đi ăn khuay ngoai Hải Triều bị mấy đưá đánh”, Thọ nói tiếp “Có sao không? Chở ba ra ngoài đó coi sao” Thịnh nói với Thọ “Ba đợi con chút,con đi toilet” và Thịnh vào khu vực bếp đến chỗ kệ rửa bát lấy 2 con dao giấu vào thắt lưng, phủ áo thun bên ngoài và quay trở lại xe của Thịnh chở Thọ ra ngoài đường Hải Triều. Trước khi đi với Thịnh , Thọ nói với Minh “đi”, Minh hiểu ý Thọ nói đi ra Hải Triều để đánh nhau, nên đứng lên tìm hung khí. Tên Nguyễn Thái Học hỏi Minh “tìm gì đấy? Dao được không” và lấy một con dao trên bàn bếp có chiều dai khoảng 25 cm, lưỡi nhọn , trắng rộng khoảng 2 cm đưa cho minh dắt vào trong người. theo lời Minh khai thì thấy Thọ “đại úy” đã chạy xe trước (thực tế Thịnh chở tên Thọ đã chạy trước) nên tên Chung hỏi Minh “đi theo Thọ phải không?”. Minh bảo “ừ”, tên Chung lấy một chiếc xe Dream II màu nho chở Minh đuổi theo Thọ ra Hải Triều.
Sau khi biết Thọ cùng các tên Minh chạy đuổi theo Thọ ra Hải Triều để đánh nhau, tên Nguyễn Hùng Cường
( Cường anh – con rể Năm cam) cùng vào bếp lấy 1 con dao, theo cường mô tả dao dài khoảng 30-35 cm, lươix rộng 4-5 cm, cán nhựa màu đen, lưỡi tù không nhọn, thường dùng để gọt trái cây trong quán, giấu vào sau lưng áo và sai em trai của mình là Nguyễn Tuấn Hùng (Cường em) cùng đi xe Honda chở chạy theo Thọ và Thịnh.
Thịnh chở Thọ chạy ra Hải Triều nhưng không gặp Bảy Việt và đồng bọn, nên Thịnh gọi điện thoại cho Bảy Việt, hỏi Bảy Việt đang ở đâu (lúc 1 giờ 40 phút). Điều này phù hợp với lời khai của nhân chứng thì tại thời điểm nói trên thấy 2 người (trong đó có người khoảng 40 tuổi) đi xe Spacy qua quán Cấm Chỉ và dừng lại ở đầu đường Nguyễn Huệ – Hải Chiều.
Khi các tên do Bùi Anh Việt (Bảy Việt) dẫn đầu chạy xe lại gặp Nguyễn Hữu Thịnh và Nguyễn Văn Thọ (Thọ “đại úy”) ở đầu đường Hải Triều – Nguyễn Huệ, cả bọn dừng lại. Tên Bùi Anh Việt hỏi Thịnh “nãy ai đánh mày?”, Thịnh chỉ vào bàn anh Sơn và các bạn đang ngồi và nói “Đó, bàn đó, thằng mập mặc áo xanh đang ngồi đó”. Nói xong, Thịnh , Việt dẫn đầu cùng cả bọn chạy ào xe lại trước cửa quán Cấm Chỉ số đường Hải Triều thì tất cả dừng lại, xuống dựng xe dưới lòng đường, chỉ riêng Bùi anh Việt vẫn ngồi trên xe máy , Huỳnh Anh Tuấn và Nguyễn Thị Kim Yến đứng bên lề đường nhìn, không tham gia đánh nhau.
Tên Thịnh đưa cho Văn Công Tiến một con dao kiểu thái lan cán vàng, dài khoảng 25 cm và cùng lúc các tên Toàn, Dương, Phi, Tiến,Kiệt, Tùng cũng xông vào bao vây xung quanh bàn của Sơn và các bạn đang ngồi. Thịnh quát “sao lúc nãy mày đánh tao?”, Sơn đứng lên nói “Tao đánh mày rồi sao? Tụi mày muốn gì?” tên Thịnh rút dao trong người ra đam vào bụng Sơn, Sơn tránh được, hất bàn chạy vào phía bên trong quán Cấm Chỉ. Cùng lúc đồng bọn của Thịnh cũng dùng vỏ chai bia, ly, cốc thủy tinh lấy ở bàn đánh, ném túi bụi,làm các bạn của Sơn chạy tán loạn, trốn vào phía bên trong quán Cấm Chỉ và các nơi khác để thoát thân.
Sau khi Sơn bỏ chạy vào phía bên trong quán Cấm Chỉ, tên Thịnh lập tức đuổi theo, trên đường chạy vào trong quán, Thịnh gặp anh Hồ Phước Hưng cũng đang bỏ chạy vào trong quán, hai bên đối diện, Thịnh cầm dao đâm sọc vào bụng anh Hưng một nhát và rút dao ra rất nhanh, tiếp tục chạy vào trong quán Cấm Chỉ để đuồi đánh anh Sơn,cùng lúc đó các tên Toàn, Dương,Phi , Kiệt cũng chạy theo Thịnh vào bên trong quán Cấm Chỉ đuổi đánh anh Sơn, bọn chúng dùng vỏ chai bia, ly, cốc thủy tinh trong quán đập , đánh, ném về phía Sơn , cạnh thùng nước lèo phở, chém liên tiếp 3 – 4 nhát vào mặt, vùng đầu và trán anh Sơn ,làm Sơn bị thương chảy máu ở vùng đầu và mặt.
Sau khi bị Thịnh đâm một nhát vào bụng, Anh Hưng bị thương nặng, ôm bụng lảo đảo, chạy được 3 – 4 bước ra hướng gốc cây trên lề đường, trước cửa quán Cấm Chỉ, thì gặp tên Hồ Thanh Tùng múa dao đâm trúng một nhát bên hông trái, trên thắt lưng. Hưng bước thêm vài bước nữa thì ngã gục xuống gốc cây sát lề đường trên vỉa hè quán Cấm Chỉ và chết tại đây. Sau khi đâm anh Hưng, Hồ Thanh Tùng tiếp tục cầm dao chạy vào phía trong

quán Cấm Chỉ, thấy một người đang quay lưng ra ngoài đường, hai tay cầm 2 vỏ chai bia, miệng hò hét, chửi bới cản đường của đồng bọn đnag đuổi đánh anh Sơn đang chạy từ bên trong quán chạy ra. Tùng tưởng nhầm là người của phía bên anh Sơn nên đã đâm một nhát vào lưng người này. Sau đó Tùng mới biết đâm nhầm vào lưng Thọ, nên nói “con xin lỗi, con đâm nhầm”, Tên Văn Công Tiến thấy(Khắc sinh) thấy Lâm đâm Thọ nên kêu lên “Sao mày đâm chú tao? Tao đâm chết mẹ mày luôn”, Tiến đứng gần, sau lưng Tùng, tay trái Tiến kẹp cổ nhấc Tùng lên, tay phải vung dao định đam xuống người Tùng, thì Bùi Anh Việt đứng ngoài quan sát vội kêu lên “Lầm rồi Sinh ơi, Lầm rồi Sinh ơi, nó là thằng giữ xe ở quán 136”. Cùng lúc đó có tiếng kêu “Thịnh,Thịnh ba mày bị đâm”, tên Thịnh đang đuổi đánh anh Sơn phía trong quán chạy ra hỏi “ai đâm ba?”. Khi đó Tiến đang còn ôm Tùng, chưa buông ra và nói: “thằng này đâm ba mày”. Thịnh hỏi “Sao mày đâm ba tao?”, và vung dao đâm xuống người Tùng, Tùng vội kêu lên “Buông em ra, buông em ra”. Đúng lúc đó Tiến nghe tiếng Bảy Việt bên ngoài kêu nhầm nên kéo lùi Tùng lại và buông tên Tùng ra nên tránh được nhát dao của Thịnh. Tên Thịnh đâm hụt tên Tùng, cũng là lúc Trương Tấn Phi đuổi theo Sơn chạy từ phía bên trong quán ra đến phía sau lưng Thịnh, Thịnh không kịp thu dao nên đam trúng bụng Phi làm Phi bị thương nặng. Tên Tùng sau khi được Tiến buông ra bỏ chạy ra y còn vung dao đâm sượt vào bả vai trai, gần cổ tên Võ Song Toàn lúc đó cũng vừa ở bên trong quán đuổi theo Sơn chạy ra bên ngoài, làm Toàn bị thương nhẹ, xước da, Tùng bỏ chạy ra ngoài theo hướng đường Hàm Nghi.
Tên Nguyễn Hữu Thọ (Thọ “đại úy”) cũng tích cực đuổi theo Phan Lê Sơn, miệng hò hét chửi bới
“Đ..m…thằng nào đánh con tao,đánh chết nó đi…” Thọ trực tiếp cầm 2 vỏ bia đập vỡ làm hung khí để đuổi đánh anh SƠn chạy vào trong quán Cấm Chỉ, khi y vừa bước lên bậc thềm của quán để đuổi theo Sơn chạy vào trong nhà thì bị tên Hồ Thanh Tùng đứng phía sau đam trúng vào lưng bị trọng thương ( vì tên Tùng tưởng Thọ là người bên anh Sơn) sau đó Nguyễn Văn Thọ, Trương Tấn Phi được đồng bọn đưa đi cấp cứu ở trung tâm cấp cứu bệnh viện Sài Gòn.
Sau khi bị thương ở trong quán Cấm Chỉ, Sơn chạy bung được ra ngoài vỉa hè bên phải và bỏ chạy lại phía đường Hàm Nghi, các tên Thịnh, Tiến,Kiệt lập tức đuổi theo.Anh Sơn chạy được khoảng 20 m, thì bị tên Thịnh chạy vượt lên chặn đầu. tên Bùi Anh Việt cũng chạy xe vượt lên chặn đầu Phan Lê Sơn.
Tên Nguyễn Hữu Chung chở tên Phạm Văn Minh ra đến đường Hải Triều thì đang xảy ra đánh nhau, tên Minh nhìn thấy Thọ đang đi ra ngoài,đã bị thương chảy máu ở lưng. Minh nhìn thấy Thịnh, Tiến,Kiệt đang đuổi theo Sơn nên Minh cầm dao chạy đuổi theo , vượt lên trước chặn đầu Sơn. Tên Nguyễn Hữu Chung vẫn ngồi trên xe máy , phóng xe vượt lên trước chặn đường chạy của Sơn…
Nguyễn Hùng Cường (Cường anh ) chủ quán 136 Nguyễn Thái Học và em trai là Nguyễn Tuấn Hùng chạy xe đến sau cùng. Khi đến nơi đã thấy các tên Thịnh, Tiến, Minh”bu”…đang đuổi theo anh Sơn chạy trên vỉa hè,
Cường em cho xe chạy theo hướng đường Hàm Nghi, Cường anh cầm dao nhảy xuống cùng Minh “bu” đón đầu , chặn đường không cho Sơn chạy tiếp.
Phan Lê Sơn chạy đến dãy quán bán rượu , cách quán Cấm Chỉ khoảng 15 đến 2 mét thì phía trước bị các tên Thịnh, Minh, Cường anh cầm dao chặn đầu. Ngoài ra còn có các tên Bảy Việt, Nguyễn Hữu Chung phóng xe máy chặn bên trên , phía sau thì có các tên Tiến, Kiệt đuổi theo. Sơn quay đầu chạy ngược lại theo hướng Hàm Nghi-Nguyễn Huệ đến gần quán Phở Lan (liền kề với quán Cấm Chỉ) thì bị Văn Tiến Công dùng ghế nhựa đập vào đầu, Sơn loạng choạng chạy được 3-4 bước đến trước quán Phở Lan thì bị vấp té nằm trên vỉa hè. Sơn té nằm ngửa, đầu quay hướng đường Nguyễn Huệ, chân quay hướng đường Hàm Nghi. Các tên Thịnh, Tiến,
Minh ,Cường anh, Kiệt cùng chạy lại dùng dao, cốc thủy tinh đâm, đánh liên tiếp vào người Sơn. Tên Thịnh đứng phía bên tây phải, ngang ngực sơn, dùng dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực của Sơn, tên Tiến đứng cùng phía với Thịnh , ngâm tầm sườn , bụng của Sơn dùng dao đâm 2-3 nhát vào sườn, bụng của Sơn. Đối diện với Văn Công Tiến phía bên ngoài đường, bên tay trái Sơn là tên Minh ngồi theo tư thế quỳ, đè 1 đầu gối lên thắt lưng trái của Sơn và đâm nhiều nhát vào vùng ngực của Sơn. Tên Từ Anh Kiệt ngồi phía trên đầu Sơn dùng vỏ chai bia, cốc thủy tinh đập vào đầu Sơn nhiều cái, mảnh vỏ chai bia và cốc thủy tinh vỡ cứa đứt da trên 3 ngón tay trái của Kiệt, Phạm Văn Minh cũng bị thương nơi gót chân trái khi ngồi đâm Sơn. Tên Nguyễn Hùng

Cường ngồi phía sau chân, cùng phía với Minh “bu”, dùng dao đam vào đùi trái của Sơn 1-2 nhát. Anh Nguyễn Văn Đông là chồng chị Nguyễn Thị Lan chủ quán phở, chiến sĩ CSHS-công an quận 1 đang ngủ trên lầu 1 của quán phở Lan(nhà số 4,Hải Triều), thấy có ồn ào đánh nhau dưới đường , lấy súng K54 bắn cảnh cáo nên tất cả bọn chúng mới bỏ chạy.
Theo lời khai của các nhân chứng có mặt ở hiện trường và các bị can thì vụ án xảy ra rất nhanh, từ lúc tên Thịnh xông vào chỗ Sơn đang ngồi nhậu đâm Sơn đến khi anh Đông bắn súng, Thịnh và đồng bọn tẩu thoát khỏi đường Hải Triều chỉ trong thời gian khoảng 3 phút.
Tên Trần Dương sau khi đuổi đánh Phan Lê Sơn ở trong quán Cấm Chỉ, y chạy ra ngoài đường, thấy Nguyễn Văn Thọ bị thương nên đã đỡ Thọ lên xe của Thịnh và chở Thọ đi cấp cứu ở trung tâm cấp cứu bệnh viện Sài Gòn, do vậy chiếc xe kawasaki Max II Bs 51T3-7981 của Dương bỏ quên tại hiện trường vụ án. Riếng Trương Tấn Phi , do bị thương nặng và bị choáng nên y không biết ai đưa vào bệnh viện.
Nguyễn Hữu Thịnh sau khi nghe tiếng súng nổ đã vứt bỏ con dao tại hiện trường và bị anh Đông túm được cổ áo, nhưng Thịnh kêu “không phải cháu” nên anh Đông buông ra, Thịnh chạy thoát, đên sau khi Sơn bị đâm thì Bùi Anh Việt bảo Hồ Thanh Tùng ngồi lên xe Việt chở chạy về quán 136 Nguyễn Thái Học, để Tùng lại đó và chạy lại quán Hoàng hôn số 57 – 59 Lê Lợi, quận 1 của Lê Thị Kim Anh báo cho Kim Anh biết việc xảy ra đánh nhau và Thọ bị thương đang cấp cứu ở bệnh viện Sài Gòn. Tên Tùng sau khi về quán 136 Nguyễn Thái Học đã bỏ con dao bấm gây án có dính máu lên bàn tính tiền, Lê Kim Cang là em vợ của Nguyễn Hùng Cường thấy vậy đã vất con dao ra đường Nguyễn Thái Học nên cơ quan điều tra không thu được. Tên Phạm Văn Minh tiếp tục ngồi lên xe do tên Nguyễn Hữu Chung chở để thoát khỏi hiện trường, theo lời khai của Minhthif khi đến vòng xoay đường Hàm Nghi – Hồ Tùng Mậu thì y vất con dao gây án xuống dọc đường đi. Sau đó Minh bảo tên Chung chở Minh đến khách sạn Minh Thắng số 53/1 Nguyễn Khắc Nhu, quận 1. Tên Chung đi xe máy về quán 136 Nguyễn Thái Học, còn tên Minh thì nói dối bị tai nạn giao thông, bị thương ở chân, mất hết giấy tờ nên xin ngủ lại đến sáng sẽ đi. Nhân viên lễ tân khách sạn Minh Thắng tưởng thật nên cho y thuê phòng, Minh còn nhờ nhân viên phục vụ giặt hộ bộ quần áo dính máu.
Văn Công Tiến chạy ra xe, chở Yến chạy khỏi hiện trường. Theo lời khai của Tiến trên đường đi ngang tiệm bánh mỳ Như Lan đường Hàm Nghi, Tiến quăng con dao xuống đường và chạy đến viện Sài Gòn thăm Thọ “đại úy” đang cấp cứu. khi biết anh Sơn và anh Hưng bị chết, Tiến sợ chở yến về nhà Yến và về nhà Tiến. Sau đó thị Yến đã tổ chức cho tên Tiến trốn ra Nha Trang và ở nhà bà Nguyễn Thị Lan, là dì ruột của Yến tại số 28/11 đường Hải Đức, phường Phương Sơn, Nha Trang,tỉnh Khánh Hòa, đến sau tết Nguyên đán mới quay về thành phố Hồ Chí Minh.
Tên Từ Anh Kiệt chở tên Nguyễn Hùng Cường (Cường anh) chạy đến trung tâm câp cứu Sài Gòn thăm Thọ “đại úy”. Sau đó về quán cà phê Bé nhỏ số 76 Nguyễn Trường Tộ , quận 4 nhờ chị Nguyễn Thị Duyên là người giúp việc trong quán băng bó hộ vết thương ở trên tay cho y.
Các tên Huỳnh Anh Tuấn (Hùng nhỏ), Nguyễn Tuấn Hùng (Cường em), có mặt ở hiện trường giữ xe và chứng kiến đồng bọn đâm đánh các nạn nhân, sau khi nghe tiếng súng nổ đều bỏ chạy khỏi hiện trường.
Hai nạn nhân : Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng được công an phường Bến Nghé đưa đến trung tâm cấp cứu Sài Gòn nhưng đã chết.
Về hung khí gây án: theo mô tỏ của Nguyễn Hữu Thịnh thì y sử dụng con dao dài khoảng 30 cm, cán đen, lười trắng, mũi nhọn vếch lên, dài khoảng 20 cm, rọng 3-4 cm. Văn Công Tiến khai đã sử dụng con dao do Nguyễn Hữu Thịnh đưa có đặc điểm: dao kiểu thái lan, cán vàng, dài khoảng 20 cm, lưỡi trắng, nhọn rộng 2 cm. Phạm Văn Vinh mô tả con dao y gây án có chiều dài khoảng 25 cm,lưỡi thẳng, nhọn, trắng, rộng khoảng 2 cm. Nguyễn Hùng Cường khai đã sử dụng con dao dài khoảng 30-35 cm, cán đen,lưỡi trắng, rộng khoảng 4-5 cm. Hồ Thanh Tùng khai đã sử dụng con dao bấm hình cây viết cài ngực, lưỡi sắc, nhọn đều, rộng khonagr 1-1.5 cm.
Các bị can đều khai nhận sau khi gây án chúng đều vất bỏ hung khí nên cơ quân điều tra không thu giữ được. nhưng căn cứ vào lời khai của bị can và nhân chứng mô tả về hung khí (dao) của các đối tượng sử dụng trong khi gây án, cơ quan điều tra đã tổ chức cho các bị can và nhân chứng nhậ dạng dao có các đặc điểm, hình dáng gần

giống như các loại dao đã được mô tả ở trên. Căn cứ kết quả thực nghiệm và giám định pháp y của viện KHHS – bộ công an, các loại dao nêu trên nếu sử dụng để đâm, chém Phan Lê Sơn Và Hồ Phước Hưng đều có thể gây nên được những thương tích trên người các nạn nhân như biên bản pháp y mô tả.
Sau khi được Bùi Anh Việt cho biết việc đánh nhau ở Hải Triều và Thọ bị đâm bị thương đang cấp cứu ở bệnh viện Sài Gòn, Lê Thị Kim Anh nói với Bảy Việt láy xe máy chở mình đến trung tâm cấp cứu bệnh viện Sài Gòn trên đường Lê Lợi, quận 1 để thăm Thọ. Tại đây, Bảy Việt, Kim Anh gặp Lê Thị Hồng Ngọc, thị Điệu (vợ Thọ) và một số đối tượng vừa gây án ở Hải Triều. Lê Thị Kim Anh và Lê Thị Hồng Ngọc hỏi thăm và biết được Nguyễn Văn Thọ và Trương Tấn Phi bị thương do đồng bọn đâm nhầm trong lúc đánh nhau ở Hải Triều. Nhìn thấy hai nạn nhân là Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hưng đã bị chết. Lê Thị Hồng Ngọc cho Nguyễn Văn Thọ và
Trương Tấn Phi tiền để bồi dưỡng cho các y, bác sĩ ca trực để mổ cáp cứu cho mình. Sau đó Bảy Việt đưa Kim Anh về lại quán Hoàng hôn số 57 – 59 Lê Lợi, quận 1 còn Lê Thị Hồng Ngọc và các tên Võ Song Toàn đi từ trung tâm cáp cứu Sài Gòn về quán Hoàng hôn gặp lại Bảy Việt và Kim Anh. Theo lời khai của Bảy Việt thì lúc này áo của y còn dính máu, nên Bảy Việt đã đi lên cầu thang tầng 1 thay áo, cũng có nhân chứng nhìn thấy tại thời điểm này Lê Thị Kim Anh gặp Bảy Việt và 2 đối tượng đi theo Bảy Việt và Kim Anh đã sai một người đi lên lầu để thay áo vì có dánh máu… Lê Thị Hồng Ngọc đã khai đã cho Bảy Việt 2 triệu đồng để bảy Việt lo cho Phi đang điều trị ở bệnh viện, sau đó Bảy Việt nói với Toàn, Dương đi về và dặn nếu công an có hỏi thì khai không biết gì. Sau khi Toàn , Dương đi về , Bùi Anh Việt chở Kim Anh lại quán Tân Hải Vân ở 162 Nguyễn
Trãi để ăn khuya. Tại đây Bảy Việt và Kim Anh gặp Dương Ngọc Hiệp (Hiệp “phò mã”). Hiệp hỏi Bảy Việt và Kim Anh sự việc xảy ra như thế nào, Bảy Việt có kể lại cho Hiệp nghe lại câu chuyện đã kể cho Kim anh và Ngọc nghe lúc trước và nói với Hiệp là Bảy Việt không đâm ai, khi ra đến hải Triều thì đang xảy ra đánh nhau, thấy Thọ bị đâm nên đưa Thọ đi cấp cứu. Sau khi ăn ở Tân Hải Vân, Bảy Việt đưa Kim Anh về nhà riêng Kim Anh ở 115/42 Trần Đình Xu, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 và ngủ tại nhà Kim Anh đên sáng ngày 27.1.2000.
Được tin cha con Nguyễn Hữu Thịnh, Nguyễn Văn Thọ cùng đồng bọn đánh nhau đâm chết 2 người ở đường Hải Triều, ngay trong đêm (rạng sáng 27.1.2000) Dương Ngọc Hiệp tức Hiệp “phò mã” đã điện thoại cho cha vợ là Năm cam đang ở khách sạn Lasvegas , số 7 Lê Văn Hưu – Hà Nội, nhưng không gặp. Đến sang ngày 27.1.2000, Năm cam gọi điện lại cho Hiệp thì được Hiệp báo cho biết tối qua Thịnh cùng mấy đứa bạn đi ăn khuay đánh lộn làm chết 2 người, có cả Thọ bị thương đang nằm cấp cứu tại bệnh viện, Hiệp nhắn Năm cam phải về Sài Gòn gấp. Năm cam đã lấy vé máy bay vào Sài gòn ngay buổi chiều 27.1.2000. Năm cam gọi Dương Ngọc Hiệp đến hỏi để bắm lại tình hình vụ án, sai Lê Thị Điệu (vợ Thọ “đại úy”, mẹ Thịnh) gọi điện kêu Thịnh đang bỏ trốn về thành phố để gặp Năm cam, sau đó Năm cam đến bệnh viện thăm Thọ để hỏi tình hình. Sau khi được nghe Hiệp “phò mã”, Thịnh, Thọ kể lại Năm cam đã nắm được nội dung vụ án đại ý là: Thịnh cùng đám bạn đi
ăn khuya ở Hải Triều , dọi pha đèn vào mặt Sơn (sau này Năm cam mới biết tên 2 nạn nhân) đang ngồi nhậu, Thịnh bị Sơn đánh, tức giận nên gọi điện cho đám bạn của Thịnh và Bảy Việt kêu người ra đâm chết 2 người là anh Sơn và anh Hưng. Năm am cũng hỏi về tình hình của Bảy Việt thì Hiệp cho biết Bảy Việt hiện giờ đang trốn ở nhà Kim Anh. Theo lời khai của Năm cam thì Thịnh nói với Năm cam là không trực tiếp đâm ai. Nhưng sau khi nắm được tình hình , Năm cam có nhận xét: việc Thịnh bị đánh ở Hải Triều là chuyện nhỏ, nhưng Thọ là cha của Thịnh đáng lẽ khi biết Thịnh gọi điện về cho Bảy Việt kêu người ra quán đánh nhau thì Thọ phải can ngăn Bảy Việt và Thịnh , nhưng Thọ không những không can mà còn theo Thịnh ra Hải Triều để đánh nhau. Sự có mặt của Thọ ở Hải Triều là nguyên nhân chính để xảy ra việc Thịnh và đồng bọn gây ra vụ án, mà hậu quả là 2 người chết.
Theo lời khai của Dương Ngọc Hiệp, vì lo sợ Nguyễn Văn Thọ bị bắt nên cha vợ y là Năm cam đã chỉ đạo Hiệp phải làm gọi Nguyễn Hữu Thịnh về đầu thú, gặp gỡ những đối tượng tham gia gây án và những người có liên quan để bố trí thời gian nhằm che giấu hành vi của Thọ có mặt ở hiện trường và tham gia gây án…
Theo lời khai của các bị can như Văn Công Tiến, Nguyễn Thị Kim Yến, Võ Song Toàn, Trương Tấn Phi, Trần Dương và một số người liên quan như Lê Thị Hồng Ngọc … trước khi ra đầu thú, bị bắt hoặc lên làm việc với

cơ quan công an các đối tượng đều gặp Thọ và Hiệp trước và được Thọ hoặc Hiệp dặn phải khai báo là : Tối hôm đó (26 rạng sáng 27.1.2000) khi Thịnh bị đánh gọi điện về cho Bảy Việt đang ngồi quán 136 Nguyễn Thái Học kêu người ra để can thiệp, Bảy Việt không ra nhưng sai 5 – 7 người là bạn của bảy Việt ra Hải Triều đánh nhau, chính những người này đã đâm chết nạn nhân, Thịnh và các bạn không biết đám bạn của Bảy Việt là ai, còn việc Thọ “đại úy” có mặt ở hiện trường là do tình cờ , và bị đâm nhầm Lê Thị Hồng Ngọc chủ quán Tân Hải Vân được CSHS – công an thành phố Hồ Chí Minh mời lên làm việc, nhưng trước khi đi, thị Ngọc đã đến gặp Hiệp dặn phải khai với nội dung không đúng sự thật là: “tối 26.1.2000, ra quán 136 Nguyễn Thái Học ăn khuya, sai Thọ “đại úy” đi mua phở và chân gà ở Hải Triều… ngoài ra Ngọc không biết gì khác”. Nguyễn Văn Thọ khai đã nhờ trương Tấn Phi mượn xe kawasaki của Trần Dương chở ra Hải Triều để mua phở và chân gà cho bà Ngọc.
Thọ và Phi ra đến Hải Triều thì đang xảy ra đánh nhau, Thọ, Phi bị đâm nhầm và được mọi người đưa đi cấp cứu ở bệnh viện nên để quên chiếc xe máy của Dương lại hiện trường. Trước khi đưa Nguyễn Hữu Thịnh ra đầu thú, bản thân Năm cam đã cùng Hiệp gặp Thịnh, Tiến, Yến tại nhà Hiệp ở 36 Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, quận 1 (tối 29.1.2000), gọi điện cho anh Dương Minh Ngọc nguyên là Trưởng phòng CSHS – công an thành phố Hồ Chí Minh để cho Thịnh ra đầu thú vào ngày 31.1.2000, chỉ đạo Bùi Anh Việt tiếp tục trốn tại nhà Lê Thị Kim Anh để nghe ngóng tình hình, sai người nhà đi đến từng gia đình nạn nhân để năn nỉ, xin lỗi, xin chịu tiền đám tang, bồi thường cho gia đình nạn nhân để xoa dịu sự công phẫn ca họ… Khi biết Bùi Anh Việt có lệnh truy ã đã chỉ đạo Dương Ngọc Hiệp và Nguyễn Văn Thọ đến nhà Kim Anh để bàn bạc, tổ chức cho Bùi Anh Việt trốn đi Campuchia (CPC) và tiếp theo là Canada hoặc đi Mỹ nhằm gây khó khăn cho cuộc điều tra. Năm cam đã chi cho Dương Ngọc Hiệp 20.000 USD để Hiệp đã tổ chức cho Bảy Việt đi trốn. Trong thời gian này Bùi Anh Việt trốn tại nhà Kim Anh, Lê Thị Hồng Ngọc đã cho Bảy Việt 2 triệu đồng, khi biết tin Năm cam và Hiệp “phò mã” chuẩn bị tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC thì Phan Thị Trúc vợ của Năm cam đã đến nhà Kim Anh cho Bảy Việt 100 USD.
Thực hiện sự chỉ đạo của Năm cam về việc tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC. Sau tết nguyên đán, Dương Ngọc Hiệp đến nhà Kim Anh để gặp Bảy Việt thuyết phục và bàn việc tổ chức cho Bảy Việt trốn sang CPC , có cả Kim Anh cùng tham gia. Bảy Việt chưa đồng ý , hẹn hôm sau mới trả lời dứt khoát. Trưa hôm sau (9.1 âm lịch) , Hiêp, Thọ, Kim Anh đã đến gặp Bảy Việt để thuyết phục Bảy Việt đi trốn, Bảy Việt đồng ý với điều kiện nếu bị bắt thì gia đình Năm cam phải lo cho Bảy Việt chỉ bị xử 5-7 năm tù.
Dương Ngọc Hiệp đã bàn bạc và nhờ Tôn Vĩnh Đắc ( Long “đầu đinh”) bố trí xe ô tô. Nguyễn Tấn Lộc là anh em bà con với Long, cũng là người làm thuê, lái xe cho Long và Hiệp, lái xe đưa Bảy Việt đi CPC. Hiệp đx đưa cho Bảy Việt 1000 USD trong số tiền Năm cam chi cho Bảy Việt sử dụng làm tiền lộ phí trong thời gian đi trốn. Hiệp thuê tên Taing Peng Chheu (Tư Miên) người CPC , lấy vợ Việt Nam ở Sài gòn là bạn buôn bán xe ô tô cùng với Long và Hiệp để Tư Miễn dẫn Bảy Việt sang CPC. Tối ngày 9.1.2000 (âm lịch), Bùi Anh Việt từ nhà Kim Anh đi taxi đến nhà Long ở 247/21B Nam Kỳ Khởi Nghĩa – phường 8 – quận 3 gặp Nguyễn Tấn Lộc và Lộc đã lấy ô tô Toyota đeo biển số giả đưa Bảy Việt lòng vòng trong thanh phố đến khoảng 3 giờ ngày 10.1.2000 (âm lịch) mới đưa Bảy Việt đến khu vực chợ Phú nhuận để đón Tư Miên. Theo sự hướng dẫn của Tư Miên, Lộc đã lái xe theo đường đi Long An đến cửa khẩu Mộc Hóa thì dừng lại . Tư Miên gọi điện cho một người tên Phát
– người CPC – đến đón Bảy Việt sang CPC, còn Tư Miên và Lộc đi xe về thành phố Hồ Chí Minh.
Theo lời khai của Hiệp “phò mã” đã đưa cho Tư Miên 2 lần tổng số tiền là 14.000 USD, lần đầu đưa 4000 USD sau khi Tư Miên đã đưa Bảy Việt sang CPC để Tư Miên bố trí cho Bảy Việt ăn ở, sinh hoạt tại CPC, lần 2 là 10.000 USD để Tư Miên làm giấy tờ, giấy tờ giả và đưa Bảy Việt sang Thái Lan và trốn đi Canada. Tuy nhiên theo lời khai của Tư Miên , Hiệp chỉ đưa cho y 2 lần có 13.500 USD. Sau khi Tư Miên nhờ người ở CPC làm hộ chiếu giả và đưa Bảy Việt sang Thái lan để xuất cảnh sang Canada nên cảnh sát Hoàng Gia Thái Lan phát hiện Bảy Việt sử dụng hộ chiếu giả và bắt giữ Bảy Việt, Tư Miên nhờ người quen bảo lãnh, xin cho Bảy Việt ra và đưa trở lại CPC.
Trong thời gian trốn ở CPC, Bảy Việt đã nhiều lần gọi điện thoại về Việt Nam cho Kim Anh để hỏi thăm tình hình. Cũng trong thời gian này theo sự chỉ đạo của Ban giám đốc công an thành phố, Dương Minh Ngọc

(nguyên trưởng phòng CSHS) và Nguyễn Mạnh Trung (nguyên là phó trưởng phòng CSĐT) đã gặp riêng Năm cam để thuyết phục Năm cam đưa Bảy Việt và các đối tượng khác ra đầu thú. Năm cam đã nói với Dương Ngọc Hiệp chỉ đạo Tư Miên đưa Bảy Việt từ CPC về Việt Nam và ra đầu thú (ngày 17.3.2000). Trước khi Bảy Việt ra đầu thú, Năm cam đã đến gặp Bảy Việt và Hiệp ở 36 Nguyễn Hữu Cầu , quận 1 để động viên và dặn Bảy Việt không được khai ra việc Hiệp, Thọ tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC, nói với Bảy Việt “chú Mạnh Trung, chú Dương Minh Ngọc đã hứa giúp đỡ rồi…”, “nếu có đi tù chỉ vài năm thôi…”.
Vì không đưa được Bảy Việt đi Canada nên Dương Ngọc Hiệp đòi lại tiền, Tư Miên đã trả lại cho Hiệp 7.000 USD, Hiệp đã sử dụng số tiền này nhưng không thông báo cho Năm cam biết.
Bùi Anh Việt khi mới ra tự thú đã khai báo theo sự sắp xếp của Năm cam và đồng bọn, nhưng sau đó thấy các đối tượng tham gia gây án khác bị bắt đều khai cho y là kẻ chủ mưu, cầm đầu trong vụ án nên Bùi Anh Việt đã phản cung, khai ra việc Thọ “đại úy”, Hiệp phò mã đến nhà Kim Anh để bàn bạc, tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC. Cả Nguyễn Văn Thọ, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc đều được cơ quan điều tra, điều tra viên (ĐTV) Đặng Hải Tương, mời lên làm việc và tổ chức cho đối chất với Bảy Việt trong trại giam, các đối tượng nêu trên đều phủ nhận lời khai của Bảy Việt. Bùi Anh Việt lại thay đổi lời khai, y lại tự nhận do một mình trốn đi CPC, không có ai xúi dục và giúp đỡ. Nhưng đến khi được tống đạt Kết luận điều tra và Cáo trạng, Bảy Việt thấy vai trò của y trong vụ án là kẻ chủ mưu, cầm đầu có khả năng bị mức án cao nhất nên đã viết đơn kêu oan, tiếp tục tố cáo Năm cam, Nguyễn Văn Thọ, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc, Tiang Peng Chheu, Nguyễn Tấn Lộc đã tổ chức cho Bảy Việt trốn đi CPC, sau đó lại bố trí cho y về Việt Nam để đầu thú như đã nêu ở trên.
Với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được đã có đủ cơ sở để kết luận các bị can: Năm cam, Dương Ngọc Hiệp, Lê Thị Kim Anh, Tôn Vĩnh Đắc, Tiang Peng Chheu, Nguyễn Tấn Lộc đã phạm các tội: “che dấu tội phạm, tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép”; Các bị can Lê Thị Hồng Ngọc, Phan Thị Trúc đã phạm tội “Che dấu tội phạm”.

Vụ tạt a-xít Lê Ngọc Lâm tức Lâm “chín ngón”

Lê Ngọc Lâm (Lâm “chín ngón”) sinh năm 1945 tại Hà Tây, năm 1954, theo mẹ và bố dượng di cư vào thành phố Hồ Chí Minh . Đến năm 1957, bị bố dượng đuổi ra khỏi nhà, bắt đầu cuộc sống lang thang, quá trình ở ngoài xã hội đã giao du với các phần tử xấu hoạt động phạm pháp,bị chính quyền ngụy bắt giam nhiều lần về các tội : trộm cắp, cưỡng đoạt, đánh người và giết người… Từ năm 1966 đến 1968, bị bắt đi trại tập trung ở Phú Quốc. Từ năm 1970 đến 1975, bị bắt giam tại Côn Đảo. Năm 1975 – 1988 chính quyền cách mạng vẫn tiếp tục giam giữ cải tạo sau đó thả tự do. Năm 1995-1996 có quan hệ mật thiết với Minh Samasasa, trùm xã hội đen chuyên hoạt động cưỡng đoạt, trốn thuế tại cảng cá Vũng Tàu sau đó bị các lực lượng công an xóa sổ, với bề dày hoạt động như vậy, Lâm “chín ngón” được giới tội phạm tôn sùng như một “đại ca”.
Lợi dụng hoàn cảnh của Lâm mới ra tù gặp nhiều khó khăn, Năm cam đã tìm cách “giúp đỡ” Lâm với ý đồ để Lâm mang ơn mà thực hiện các yêu cầu phạm pháp của Năm cam sau này , bằng cách nói với anh Mười đen cho Lâm hùn vốn bán đồ điện tử ở chợ Huỳnh Thúc Kháng. Kinh doanh một thời gian thi anh Lâm và anh Mười mâu thuẫn nhau, hai người chia vốn không làm ăn nữa. Anh Lâm chuyển sang quận 10 buôn bán thuốc tây. Đồng thời,
Năm cam lại hùn hạp với Tư râu, Mười đen và Chín cam thuê mặt bằng tại 49 Huỳnh Thúc Kháng buôn bán hàng điện tử. Thấy Năm cam làm ăn phát đạt, Lâm thường qua lại kiếm chuyện chửi Mười đen, thỉnh thoảng còn xiên xỏ Năm cam: “tụi bay dựa hơi Năm cam, tao thách tụi bay kêu Năm cam ra đây”. Bắt đầu từ thời điểm này , mâu thuẫn giữa hai người phát sinh.
Tiếp đến năm 1995, bà Nguyễn Thị Mai là chủ vựa cá tại chợ cầu Ông Lãnh có hợp đồng tiêu thụ cá với xí nghiệp đánh cá Kiên Giang. Khi chuyển ngư trường về Vũng Tàu thì bị một số tên xã hội đen hăm dọa giết và cản trở công việc kinh doanh cá. Bà mai đã cố gắng liên lạc với nhóm người này qua điện thoại để xin được yên ổn làm ăn thì được trả lời người quyết định chuyện này là anh Lâm. Nguyễn Hữu Thế Trạch (con rể bà Mai) đã

nhờ Năm cam nói với Lâm để được giúp đỡ. Việc vai trò của Lâm rất đặc biệt đối với giới xã hội đen Vũng Tàu và việc một “ông trùm” như Năm cam lại phải đi xin Lâm giúp làm danh dự bị tổn thương, nhưng vì nể Trạch, Năm cam phải nhịn nhục, đích thân cùng Trạch tới nhà Lâm để nói với Lâm: “Đây là thằng cháu có gì nhờ anh giúp”.
Khoảng năm 1997-1998, có lần Lâm mời Năm cam đến uống bia tại nhà hàng karaoke trên đường Trần Hưng Đạo, quận 5. Khi thấy một số đàn em của Lâm mời Năm cam uống bia và tỏ vẻ thân thiện, Lâm chửi đàn
em”Đ…mẹ bọn bay, nó là thằng cờ bạc chứ là gì mà tụi bay xun xoe nó”. Ngoài ra, có thông tin đến tai Năm cam (Bình Kiểm nói) là Lâm muốn gây chuyện với Cam. Tháng 7.1999, vợ Lâm điện thoại tới nhà Năm cam, yêu cầu Năm cam phải tới nhà Lâm trao đổi công việc, nếu không đến mai mốt đừng có trách. Tất cả những mâu thuẫn trên đã làm cho Năm cam hết sức bực bội và quyết định thanh toán Lâm để loại trừ thảm họa.
Tối ngày 9 hoặc 10.7.1999, Dung hà đi xe máy do Nguyễn Duy Quân (Quân béo) hộ khẩu thường trú tại số 22/10 đường Trần Nguyên Hãn, phường Cát Dài, thành phố Hải Phòng, tạm trú số 448/3G đường Nguyễn Tất Thành, phường 18,quận 4, thành phố Hồ Chí Minh chở đến nhà Năm cam ở số 107/38 đường Trương Định,phường 6, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh để thăm Năm cam bị ốm. Trong lúc Năm cam ngồi nói chuyện
có Nguyễn Duy Quân cùng ngồi nghe. Cam nói với Dung hà: “có Lâm “chín ngón” thường nói xấu anh, làm mất uy tín của anh giữa đám đàn em của Lâm. Em sẽ cho đứa nào chém cho Lâm “chín ngón” vài dao để nó không kiếm chuyện với anh nữa”. Dung hà nói “chém làm gì, vì mang dao đi lỉnh kỉnh, cho nó một ca axít”. Năm cam đồng ý và gọi điện cho Thọ “đại úy” đi mua axit về đựng trong bình nhựa màu trắng(loại can nhựa 1lit) đưa cho Dung hà tại nhà Năm cam. Dung hà hỏi Năm cam mặt Lâm “chín ngón”. Năm cam đã chỉ số nhà Lâm “chín ngón” ở 297, đường 3-2, quận 10 và tả hình dáng Lê Ngọc Lâm cho Dung hà. Dung đổ một ít axit trong can xuống cống thoát nước tại nhà Năm cam để thử và chê axit loãng quá không đạt yêu cầu rồi nói với Năm cam để em mua axit đậm đặc, Cam đồng ý . sau đó, Quân chở Dung đem theo can axit còn lại về số 19 Bùi Thị Xuân, quận 1, nơi Dung tạm trú , cất can axit và hai người tiếp tục đi đến ngã tư 3-2 , Sư Vạn Hạnh (khu vực nhà của Lê Ngọc Lâm). Tại đây, Quân ngồi uống nước mía còn Dung đi bộ cách xa chỗ Quân ngồi 100m, gặp và nói
chuyện với Nguyễn Văn Thọ và 3 thanh niên nữa nhưng Quân không biết tên. Sau đó, Quân lại chở Dung về nhà. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 14.7.1999, sau khi dọn hàng xong, Lê Ngọc Lâm chở vợ là Nguyễn Thị Kim Liên cùng con trai 4 tuổi đi ăn tối tại quán phở Lài trên đường Cửu Long thuộc cư xá Bắc hải, phường 15, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, chị Liên và con trai vào bàn ngồi trước (lúc này khoảng 20 giờ 30 phút), Lâm đang dựng xe máy thì bị một thanh niên khoảng 30 tuổi đi đến càm một chiếc ca nhựa màu đỏ đựng axit bất ngờ tạt vào mặt và bỏ chạy sang bên kia đường, nhảy lên chiếc xe máy đang nổ máy đợi sẵn bỏ chaỵ. Lâm hét
lên và gục xuống. Chị Liên cùng mọi người đưa Lâm đến bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả giám định pháp y tại bản giám định y- pháp số 41/GĐYK ngày 18.5.2000 của Viện Y Học Tư Pháp Trung Ương – Bộ Y Tế khu vực phía nam kết luận: Tổn thương do bị tạt axit để lại di chứng sẹo xấu vùng mặt gây ảnh hưởng thẩm mỹ bình thường của mặt, tổn hại toàn bộ mi mắt , hơt mi sau khi ghép da phục hồi , tổn hại giác mạc gây sẹo mộng thịt gỉa co kéo giác mạc , tổn hại hai bên, giảm thị lực nghiêm trọng. Tổn thương bỏng do bị tạt axit đã gây ảnh hưởng vè mặt tâm lý cho nạn nhân. Tỉ lệ tổn hại sức khỏe vĩnh viễn là 75%
Được tin báo của quần chúng , công an phường 15, quận 10 đã đến ngay hiện trường đưa Lâm đi cấp cứu đồng thời ghi lời khai của những người biết việc, thu tại hiện trường một chiếc ca nhựa màu đỏ, có quai, cao 11.3 cm , đường kính miệng ca 9.7 cm, đồng thời tiến hành lấy lời khai ban đàu của Lâm. Ngày 15.7.1999, công an phường 15 báo cáo và chuyển hồ sơ ban đầu cho trực ban đội cảnh sát điều tra công an quận 10.
Quá trình thụ lý vụ án, Cơ quan cảnh sat điều tra, Bộ công an đã xuống công an quận 10 để xác minh thì đực báo cáo hồ sơ đã bị thất lạc. Cơ quan cảnh sát điều tra bộ công an chỉ thu được bản pho to hồ sơ ban đầu của
công an phường 15 còn lưu lại tại phòng cảnh sát hình sự công an thành phố Hồ Chí Minh và chiếc ca nhựa màu đỏ thu được tại hiện trường do công an quận 10 chuyển giao.
Sau khi bị tạt axit gây thương tích , Lâm không dám tố cáo mặc dù nghi vấn chủ mưu việc này do Năm Cam (vì sợ thế lực của Năm cam trong giới giang hồ). Nếu tố cáo thì sẽ liên lụy đến bản thân và gia đình. Đến khi

Năm cam bị bắt trong một vụ án khác, ngày 12.12.2001, Lâm mới gửi đơn đến cơ quan pháp luật để tố cáo sự việc trên.
Trước cơ quan điều tra, Năm cam đã thừa nhận toàn bộ việc chủ mưu để Dung hà tổ chức thực hiện việc tạt axit Lâm “chín ngón” như nêu trên. Lời khai của Nguyễn Duy Quân, người trực tếp chở Dung hà dến nhà Năm
cam, chứng kiến cuộc trao đổi hai người về nhận diện Lâm “chín ngón” phù hợp với lời khai của bị can là chứng cứ khẳng định vai trò chủ mưu của y.
Anh Lê Ngọc Lâm có trình bày với cơ quan điều tra: trước khi anh bị tạt axit 30 phút, anh có nhận một cuộc điện thoại của người có tên là Phạm Sinh bán dụng cụ y khoa tại trung tâm thương mại quận 10 , rủ lâm cá độ bóng đá. Cũng ngay sau đó có 4 người gồm : Đặng Huy Hải (Nam lùn), Nguyễn Phúc, Hoàng “nổ” (còn gọi là Hoàng Mexico) cùng một thanh niên nữa đi hai xe máy đến nhà Lâm tại số 297, đường 3-2, quận 10 rủ Lâm đi nhậu nhưng Lâm không đi.
Theo nguồn tin của quần chúng thì Hoàng “nổ” hiện làm cho Tân “hói” buôn bán xe ô tô ở quận 4. Cơ quan điều tra gọi hỏi Nguyễn Trọng Hoàng (Hoàng “đệ”) đang làm thêm cho Tân “hói” hiện ở 240 Đoàn Văn Bơ, phường 14, quận 4 nhưng Hoàng không thừa nhận quan hệ với Phạm Sinh , Nguyễn Phúc, Đăng Huy Hải . Các anh Sinh, Phúc, Hải và cả Lâm, người bị hại, cũng xác định Hoàng “đệ” không phải là Hoàng “nổ”. Do vậy cơ quan điều tra thấy không đủ cơ sở kết luận số đối tượng mà Lâm tố cáo liên quan đến vụ án.
Dương Hà Thanh (Thanh “xoăn”) phạm nhân đang cải tạo tại A2-V26-Bộ công an khia báo: tháng 12.1992, Năm cam triệu tập đàn em đến quán cà phê số 50 Nguyễn Huệ , quận 1 để bàn việc xử lí Lâm do Lâm coi thường và làm nhục Cam, thường quậy phá những sòng bài mà Năm cam tổ chức. Năm cam giao cho nhóm tội phạm đân thuê chém mướn gốc Hải Phòng là Thành (Thành “chân”) đang định cư ở nước ngoài,Quốc “lủi”,Long”rắn”, Thủy “ba thỏ”, Dũng “bắc cạn”, Sơn “con”, Tuấn “cơm”, Văn “con” (đã chết),Tiệp “chó”, Tới”hen” (đã bị tử hình về tội giết người) tổ chức đánh nhau tại cầu Công Lý (sở dĩ chọn điểm này vì đây là địa bàn giáp ranh giữa phường 7 quận 3 và phường 16 quận Phú Nhuận có nhiều đường ngang ngõ tắt dễ bề tẩu thoát) với băng nhóm của Lâm “chín ngón” bao gồm : Sáu “nhỏ”, Đức “năm nghệ”, Chấu “râu”, Út “dẹp”, Long “lòi”, Tuấn “điên”, Hùng”chuột”, Cu”sún”, Quý”heo”. Kết quả là Tuấn”cụm” bị chém vào vai trái, Tiệp “chó”bị chém trúng bàn tay phải, Út”dẹp” bị chém trúng lưng và một số tên khác bị chém vào đầu và tay. Cuối cùng băng của Lâm đã thua và bỏ chạy.
Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai Lê Kim Quyền (Cu “sún”) hiện bị tạm giam tại trại Chí Hào về tội buôn bán ma túy, từ năm 1990 đến 1997 , Cu “sún” đang thụ hình trong trại Tống Lê Chân nên không thể tham gia vụ đánh nhau tại cầu Công lý vào năm 1992 được. Dũng “bắc cạn” không thừa nhận tham gia đánh nhau đêm 23.12.1992 vì đầu năm 1993 Dũng mới vào thành phố Hồ Chí Minh. Đức “năm nghệ” khai không biết sự kiện 23.12. Năm cam,Lê Ngọc Lâm không công nhận tổ chức đánh nhau như nêu trên.
Căn cứ vào tài liệu điều tra thu thập được , kết luận: giữa Lê Ngọc Lâm và Năm cam có mâu thuân gay gắt với nhau trong việc tranh giành quyền lợi, vị trí ngôi thứ trong “thế giới ngầm”, Năm cam quyết định thanh toán Lâm, têu diệt Lâm để ngăn ngừa hậu họa về sau. Để tránh bị bại lộ từ phía nạn nhân và cơ quan công an, Năm
cam đã chỉ đạo Dung hà , trùm “xã hội đen” gốc Hải Phòng , tổ chức thực hiện tạt axit Lâm “chín ngón”. Hành vi sử dụng axit đậm đặc với thể tích lớn tạt vào mặt và đầu nạn nhân là rất nguy hiểm, xâm hại tới sức khỏe, thẩm mỹ và cả tính mạng của Lâm. Nhưng do Lâm có sức khỏe tốt, lại được cấp cứu kịp thời nên thoát chết , nhưng bị thương tật rất nặng (tỷ lệ 75%) đã cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại điều 104 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, Năm cam giữ vai trò chủ mưu, Vũ Hoàng Dung giữ vai trò tổ chức thực hiện, Nguyễn Văn Thọ là người mua axit và chỉ nhà, chỉ mặt Lê Ngọc Lâm cho Dung hà nhận biết, nhưng do Dung hà bị bắn chết ngày 2.10.2000 nên không khởi tố bị can đối với Dung. Nguyễn Văn Thọ đã bị khởi tố bị can, nhưng do y bỏ trốn nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã , khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Mặc dù trong quá trình điều tra rất công phu nhưng tới nay ngoài Dung hà,kẻ trực tiếp tổ chức thực hiện vụ tạt axit, Cơ quan điều tra chưa tìm thêm kẻ mà Dung hà cử trực tiếp tạt axit anh Lê Ngọc Lâm.

VỤ CHÂU PHÁT LAI EM GIẾT ĐỔNG CHÍ NAM
Khoảng 12 giờ ngày 26.12.1987, Đổng Chí Nam sinh năm 1963 tại Sài Gòn, trú tại 1/17 đường Calmett, phường 19 (nay là phường Nguyễn Thái Bình), quận 1, thành phố Hồ Chí Minh là công nhân bốc xếp tại chợ cá cầu Ông Lãnh , đòi tiền bốc xếp của chủ hàng tôm tên Mỹ, dẫn tới có sự cãi nhau giữa Nam và chị Mỹ và anh Hùng lái xe chở hàng cho chị Mỹ(không xác định được địa chỉ của chị Mỹ và anh Hùng). Biết chủ hàng tôm là khách giao hàng thường xuyên cho chị ruột của mình là Châu Kim Hoa nên Châu Phát Lai Em đến để can thiệp, dẫn tới mâu thuẫn cãi nhau giữa Nam và Châu Phát Lai Em. Hai bên thách thức đánh nhau tay đôi nhưng được mọi người can ngăn nên cả hai cùng bỏ về nhà và lấy hung khí. Đổng Chí Nam chạy về nhà lấy 2 thanh sắt , mỗi thanh dài khoảng 80-90 cm, rồi đi đến đứng trước hẻm 88X Bến Chương Dương. Lúc đó Châu Phát Lai Em cũng từ nhà 88X (nhà của Châu Kim Hoa) trong hẻm 88X đi ra và gặp Nam ở đầu hẻm. Khi gặp Lai Em, Nam hỏi “mày muốn chơi tay không hay có đồ” sau đó Nam vừa vất 2 thanh sắt xuống đất thì Lai Em lao đến và dùng dao đã chuẩn bị trước đâm thẳng vào bụng Nam. Sau đó đâm liên tiếp 2 phát nữa làm Đổng Chí Nam gục xuống đường, Lai Em bỏ chạy, trên đường bỏ chạy thì vất con dao gần khu vực hiện trường rồi bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Đến ngày 11.2.1988 thì bị bắt. Cong Đổng Chí Nam được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Sài Gòn, khoảng 14 giờ cùng ngày thì chết.

Biên bản giải phãu tử thi của Đổng Chí Nam:

– Vùng ngang rốn bên trái có 1 lỗ thủng kích thước 3x1cm, vết thương này làm thủng 1/3 phần dưới dạ dày kích thước 1.5x1cm.
– Vết thương vùng nách trái khoảng liên sườn số 6.7 kích thước 3x1cm, vết thương này làm thủng thùy dưới phổi trái kích thước 2.5x1cm.
– Vết thương vùng nách sau trái kích thước 3x1cm; vết thương này làm thủng mặt dưới tim thất phải kích thước 1×0.5 cm.
Nguyên nhân chết: Do thủng mặt dưới tâm thất phải.
Châu Phát Lai Em

Nhân chứng Nguyễn Minh Chánh , là công nhân bốc xếp chứng kiến trực tiếp sự việc từ đầu đến cuối, có khai (lúc 14 giờ 30 phút ngày 26.12.1987 ngay sau khi sự việc xảy ra) “… sau đó tôi thấy anh Nam đi đến đứng trước căn nhà 89X Bến Chương Dương (cạnh hẻm 88X Bến Chương Dương), trên tay anh Nam có cầm 1 cây sắt đặc và 1 cây sắt ống nước dài khoảng 80-90 cm. Sau đó tôi thấy anh Lai Em cũng vừa đi đến gặp mặt anh Nam, anh Nam có hỏi : “mày muốn chơi tay không hay có đồ?”; liền sau đó tôi thấy anh Nam bỏ 2 cây sắt xuống đất thì anh Lai EM nhào vô đánh đâm đường…”. Lời khai này phù hợp với 3 vết tử thương trên người nạn nhân theo biên bản giải phẫu tử thi , phù hợp với kết luận giám định số 2447/C21 điều tra viên, kiểm sát viên, giám định viên : cũng tư thế mà Lai Em khai là Nam đè lên người. Lai Em cầm dao tay trái để đâm Nam, nhưng khi yêu cầu Châu Phát Lai Em đâm sang
sườn trái thì bị can trả lời là không thực hiện được, phù hợp với lời khai của nhân chứng Lê Thị Hương buôn bán cá tại chợ Cầu Ông Lãnh và có mặt hôm đó, gián tiếp

nghe thấy sự việc: “… Lai Em mặc áo sơ mi, trong tay áo có dấu 1 con dao găm, khi gặp Nam ở hẻm 88X thì Lai Em có nói với Nam là: Nếu có ngon thì chơi tay đôi, sau đó Nam vứt móc sắt xuống đường, Lai Em xông vào đâm Nam nhiều nhát bị lòi ruột sau đó Lai Em bỏ chạy…tôi nghe thấy mọi người kêt như vậy…”.
Lời khai của bị can Châu Phát Lai Em không ghi ngày tháng năm 1988 và bản kết luận điều tra số 196/PC16-HS ngày 8.4.1988: “Lai Em trượt chân té trên lề đường đồng thời cướp 1 con dao của 1 người bán

buôn của 1 người bán buôn ngồi tại lề đường để chống cự lại Nam, và bị Nam chạy đến ôm cở, nên Lai Em dùng dao đâm 1 nhát vào bụng nam…”
Bị can Châu Phát Lai Em còn khai trong các bản cung ngày 20.3, 12.4, 6.6 và ngày 26.6.2002: “… tôi bỏ chạy…Nam phóng con dao theo nhưng không trúng… tôi vấp ngã ngửa, anh Nam lao đến đè lên người…tay trái tôi quơ được con dao của Nam, tôi (Lai Em) cầm dao tay trái đâm anh Nam nhiều nhát, sau đó hất anh Nam xuống đất và bỏ chạy…”. với những tài liệu, kết quả điều tra nêu trên (lời khai nhân chứng, biên bản giải phẫu tư thi, kết luận giám định, thực nghiệm điều tra…) đã bác bỏ hoàn toàn lời khai chối tội của bị can Châu Phát Lai Em.
Với những tài liệu đã thu thập được, để có cơ sở xác định Lai Em đã sử dụng dao mang theo để đâm nhiều nhát rất quyết liệt vào chỗ hiểm của Nam trong khi Nam đã bỏ hung khí để định đánh nhau tay không với tên Lai Em. Hành động giết người của Lai Em thể hiện rõ tính côn đồ, hung hãn của y. Hành vi của Châu Phát Lai Em đã phạm tội giết người.
Tang vật của vụ án là con dao đã bị mất nhưng với lời khai nhân chứng, bị can, biên bản giải phẫu tử thi, sổ tay trang 401 của bác sĩ pháp y có thể khẳng định: hung khí mà bị can sử dụng để gây án là con dao sắc nhọn có bản rộng khoảng 3cm. Con dao thu được tại hiện trường đã được thay bằng con dao khác tại biên bản bàn giao hồ sơ và tang vật vụ án và hai thanh sắt theo phiếu nhập, xuất và bàn giao tang vật vụ án, nhưng hiện nay Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không tìm thấy không xác định được 2 thanh sắt này có phải là tang cật của vụ án không

Hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án của Nguyễn Minh Tuân
Ngày 13.12.1988 Công an quận 1, thành phố Hồ Chí Minh có quyết định di lý vụ án Châu Phát Lai Em phạm tội “giết người” đến phòng PC16-Công an thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền. Nguyễn Minh Tuân là điều tra viên đã được phân công thụ lí điều tra vụ án này . Ngày 22.2.1988 Nguyễn Minh Tuân viết bản kế hoạch điều tra vụ án được lãnh đạo đội duyệt, sau đó tiến hành điều tra. Ngày 8.4.1988 kết luận điều tra vụ án và chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị truy tố Châu Phát Lai Em về tội giết người theo điều 101 khoản 3, Bộ luật hình sự 1985 là trường hợp phạm tội “trong tình trạng thần kinh bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân”.
Quá trình điều tra vụ án bị can Nguyễn Minh Tuân đã để ngoài hồ sơ vụ án lời khai của nhân chứng trực tiếp rất quan trọng là anh Nguyễn Minh Chánh . Kết luận điều tra vụ án chỉ dựa theo lời khai chối tội của bị can Châu Phát Lai Em.
Bị can Nguyễn Minh Tuân đã biết rõ con dao mà công an quận 1 chuyển không phải là con dao mà bị can Châu Phát Lai Em đã sử dụng để gây án nhưng Nguyễn Minh Tuân vẫn chuyển cùng hồ sơ vụ án đề nghị truy tố. Mặt khác theo phiếu nhập, xuất và bàn giao tang vật mà Nguyễn Minh Tuân chuyển lên tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh gồm : 1 con dao và 2 thanh sắt nhưng trên kết luận điều tra vụ án chỉ nêu tang vật là 1 con dao(biên bản thu hồi tang vật tại hiện trường ngày 26.12.1987 cũng chỉ có 1 con dao).
Các hành vi trên đây của Nguyễn Minh Tuân đã dẫn đến làm sai lệch bản chất vụ án. Mặc dù Tuân vẫn thảo theo kết luận điều tra đề nghị truy tố Châu Phát Lai Em, ngưng lại trên cơ sở hồ sơ đã bị làm sai lệch theo hướng không phạm tội như đã nêu ở trên. Bị can Nguyễn Minh Tuân đã thừa nhận việc làm sai phạm của mình. Mặc dù đã thừa nhận sai phạm của mình nhưng Nguyễn Minh Tuân không thừa nhận có tiêu cực trong việc này , chỉ thừa nhận việc sai phạm của mình là do điều tra thiếu thận trọng, cẩu thả, trình độ non kém.
Hành vi trên của Nguyễn Minh Tuân đã phạm vào tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, tội danh được quy định tại khoản 2 điều 236 BLHS 1985 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mất trang119
Văn thư của phòng kiểm sát điều tra án trị an là chị Hải (chị Hải hiện đang định cư tại Mỹ) nhưng phát cũng thừa nhận là không có cơ sở nào để xác định hồ sơ Phát đã giao lại cho văn thư của phòng, toàn bộ hồ sơ vụ án bị mất trách nhiệm thuộc về phát.

Bị can Lâm Xuân Phát còn khai : khi được phân công thụ lý kiểm sát điều tra, sau khi nghiên cứu hồ sơ và kết luận điều tra, Lâm Xuân Phát đã viết đề xuất với nhận thức là Châu Phát Lai Em có dấu hiệu của tội “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Nay được điều tra viên cho xem lại bản kết luận điều tra vụ án này còn lưu lại thì thấy nạn nhân không có hành vi tấn công bị can, như vậy là để lọt tội giết người đối với bị can Châu Phát Lai Em. Mặc dù thời gian đã lâu , nhưng rõ ràng việc để mất hồ sơ gốc vụ án và cả hồ sơ kiểm sát dẫn đến rất nhiều ván đề tồn tại trong quá trình giải quyết vụ án này , đến nay không thể giải đáp được.
Hành vi trên của Lâm Xuân Phát đã phạm vào tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng , tội danh được quy định tại khoản 2 điều 220 BLHS 1995 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đối với ông Nguyễn Văn Bông (nguyên phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh) đã ký lệnh tạm tha và quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can như trên đã nêu. Đến nay mất hồ sơ gốc nên không xác định được là dựa vào cơ sở nào mà ông Bông đã thay đổi tội danh từ tội “giết người” (điều 102 BLHS năm 1985) sang tội “giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” thì không thấy kết quả xử lý. Vì hồ sơ gốc đã mất , do đó không có cơ sở xác minh mức độ sai phạm của ông Bông trong việc đình chỉ đối với bị can Châu Phát Lai Em.
Việc để lọt tội giết người của Châu Phát Lai Em (một đói tượng có nhiều tiền án, tiền sự, tay chân thân tín của Năm cam), hắn tiếp tục có điều kiện thực hiện các hành vi phạm tội khác trong thời gian dài, làm mất ổn định trật tự xã hội trên địa bàn rộng lớn, ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Hậu quả mà bọn chúng đã gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Sinh năm 1963, trú tại 152/1, đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng , quận 7, thành phố Hồ Chí Minh làm đơn tố cáo Châu Phát Út, đã nhờ đồng bọn chém gây thương tích cho Minh vào tối ngày 10.8.1999 tại quán cà phê 3B, bến Chương Dương. trước đây Minh không dám tố cáo vì khiếp sợ thế lực của anh em nhà Châu Phát Lai Em (Lai Em là anh ruột của Châu Phát Út và là tay chân thân cận của Năm cam) cụ thể sự việc đó như sau:
Do có sự cãi nhau giữa Lân là con trai của Châu Phát Lai Anh (Lai Anh là anh ruột của Châu Phát Út) và Hoà là em trai của Trần Văn Minh , Minh đã nói lại sự việc này với Châu Phát Út nên dẫn tới Út bực tức với Minh. khoảng 20 giờ ngày 10.8.1999 , Châu Phát Út đến quán “BARCONKET” (sau này đổi tên thành nhà hàng Hoàng Hôn), thì gặp Nguyễn Trần Lam (Lam là bạn tù trước đây với Út tại trại Xuyên Mộc) và Đinh Tuấn Huy (bạn của Lam) cùng với Châu Phát Lai Em ngồi uống rượu, được một lúc thì Út chửi và đến kéo Lam đứng dậy,Lam kéo Huy đi theo. Út đi 1 xe máy chạy trước, Lam đi xe mô tô L.A chở Huy chạy theo sau. Đi đến chợ Cá cầu Ông Lãnh, Út dựng xe bên lề đường và đi vào nhà em rể tên là Của (hiện Của đã chết), Của đưa cho Út 1 thanh kiếm rồi Út đi ra và đưa kiếm cho Huy cầm, lúc này Huy và Lam biết là đi chém ai đó. Út lên xe chạy trước, Lam và Huy chạy theo sau , đi một đoạn đến quán 3B Bến Chương Dương thấy Trân Văn Minh đang uống cà phê với một số người, Út chỉ tay vào Minh và nói: “chém chết mẹ thằng áo xanh cho tao” ngay lúc ấy Huy cầm kiếm lao vào chém Minh , Minh giơ tay trái lên đỡ và bị thương ở tay rồi bỏ chạy, Huy chạy theo mấy mét chém tiếp nhưng không trúng, Huy chạy lại chỗ Lam đang chờ . Xe không nổ máy nên Huy phải đẩy khoảng 100m thì xe nổ máy. Lam chở Huy cầm kiếm ngồi sau bỏ chạy đến đầu đường Nguyễn Công Trứ (cửa hàng SAIGON SHIP) thì dừng lại và Lam gọi điện thoại cho Út nhưng không gặp. Sau khi gọi điẹn cho Út không được, Lam nói Huy giấu chiếc kiếm ở bồn hoa trước cửa công ty SAIGON SHIP rồi chở Huy về nhà mình thuê ở 600 Lê Quan Định ngủ. Châu Phát Út lúc đó đã chạy xe về nhà thay quần áo khác và ra Hợp tác xã bốc xếp bến Chương Dương làm việc. Trần Văn Minh được mọi người đưa vào cấp cứu tại trung tâm chấn thương chỉnh hình điều trị.
Khoảng 2 tuần sau Lam gặp Út, sau đó Út có rủ Lam, Huy đi nhậu và “bao chơi gái” chứ Út không cho tiền Lam và Huy.
Trần Văn Minh điều trị tại bệnh viện khoảng 20 ngày thì về. Châu Phát Lai Em đến thăm Minh và có ý đe doạ nếu như Minh làm đơn tố cáo với công an. Châu Phát Út cũng tới thăm và đưa cho Minh 2 triệu đồng. Vì lo sợ thế lực của gia đình Châu Phát Lai Em, nên trước đây Minh không dám tố cáo như đã nêu ở trên. Vợ Trần Văn Minh có đơn trình bày tổng số tiền điều trị của Minh là 9.2 triệu đồng.

Gia đình Đinh Tuấn Huy tự nguyện bồi thường cho gia đình Minh 2 triệu đồng nhưng chị Phượng(vợ Trần Văn Minh) không nhận.
Do đã quá lâu nên đến nay chiếc kiếm không thu hồi được, nhưng với lời khai nhận của các bị can và lời khai của bị hại, nhân chứng có đủ cơ sở xác định hung khí mà các bị can sử dụng để gây án là 1 thanh kiém dài khoảng 80cm, rộng 5cm, mũi nhọn.
Bản kết luận giám định y pháp số 2284/C21(CIII) ngày 18.6.2002 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận thương tích của Minh: cứng các khớp liên đốt ngón trỏ, giữa, nhẫn và út bàn tay trái, tỉ lệ thương tật là 27%.

Vụ Châu Phát Út dùng dao chém Trát Minh Dũng đêm 21.11.2000 tại chợ cá Cầu Ông Lãnh

Khoảng 2 giờ 30 phút ngày 21.11.2000, tại chợ cá Cầu Ông Lãnh, quận 1, tên Châu Phát Út và anh Trát Minh Dũng , sinh năm 1970, trú tại 81/65 Bến Chương Dương, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cùng là công nhân bốc xếp thuộc hợp tác xã số 1 Bến Cầu Chương Dương đang làm việc, tên Út có nói với anh Trát Minh Dũng: “mày làm ở trong chợ hay ngoài đường?”. Anh Dũng trả lời “làm ở đâu thì cũng là làm”. Hai người cãi nhau, anh Dũng có đẩy làm Út ngã vào chậu cá, Út đứng dậy bỏ đi còn anh Dũng vẫn tiếp tục làm việc. Sau vài phút anh Dũng nghe có người kêu, liền quay lại thì thấy tên Út đang vung dao lên chém mình, Dũng đưa tay phải lên, tên Út chém liên tiếp anh Dũng 3 phát, sau đó vất dao tại hiện trường, rồi bỏ đi và trốn khỏi nơi cư trú. Đến ngày 14.2.2000 tới công an phường Cầu ông Lãnh tự thú, còn anh Dũng được mọi người đưa đi cấp cứu tạitrung tâm chấn thương chỉnh hình Thành phố.
Bản kết luận giám định y pháp số 1632/TT.00 ngày 15.12.2000 của tổ chức giám đinh – pháp y tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tỉ lệ thương tật 31% vĩnh viễn.
Sau khi cơ quan điều tra có kết luận điều tra vụ án đề nghị truy truy tố Út thì viện kiểm sát nhân dân quận 1 lại trưng cầu giám định lại. Bản giám định y pháp số 33/2001/GDPY ngày 25.5.2001 của tổ chức giám định pháp y Trung ương khu vự phía Nam kết luận: Liệt trụ thần kinh bàn tay phải, có ảnh hưởng chức năng bàn tay phải một phần, tỉ lệ thương tật là 22% vĩnh viễn
Xét thấy việc giám định thương tích của Dũng có nghi vấn nên cơ quan đièu tra cảnh sát Bộ công an đã trưng cầu giám định lại. Bản kết luận giám định pháp y số 2283/C21 (CIII) ngày 18.6.2002 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận : tỷ lệ thương tật của Trát Minh Dũng là 31%.
Mặc dù không thu hồi được con dao mà tên Út đã sử dụng để gây án nhưng lời khai của nạn nhân phù hợp với lời khai nhận của Châu Phát Út là đã sử dụng con dao dùng để chặt cá dài khoảng 40 cm, rộng 10cm, đầu vuông, cán gỗ chém anh Dũng , mặt khác thương tích để lại trên người nạn nhân đủ cơ sở xác định hung khí mà tên Út sử dụng là con dao dài khoảng 40cm, rộng 10cm, cán gỗ.
Chi phí điều trị là 4 triệu đồng, gia đình Châu Phát Út đã bồi thường cho anh Dũng.
Xét nhân thân Châu Phát Út là đối tượng rất côn đồ: vừa mã hạn 17 năm tù về tội giết người ,mới được tha về cuối năm 1998, Lai Út liên tiếp gây ra 2 vụ án trên. Điều đó thể hiện Út rất là kẻ coi thường pháp luật, sẵn sàng đâm chém người khác dù là thân quên và với lí do rất đơn giản.
Hành vi của Châu Phát Út đã phạm vào tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại khoản 4, điều 104 BLHS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về vụ không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội của nguyên Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân quận 1 Nguyễn Bá Phong

Ngày 18.4.2001 Công an quận 1 thành phố Hồ Chí Minh có kết luận điều tra vụ án nêu trên , chuyển Viện kiểm sát nhân dân quận 1 đề nghị truy tố bị can Châu Phát Út về tội cố ý gây thương tích, nhưng Nguyễn Bá Phong (nguyên Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân quận 1) đã từng bước chỉ đạo và đến ngày 23.7.2001 thì đình chỉ điều tra vụ án, bị can cụ thể như sau:

Ngày 15.2.2001 Nguyễn Bá Phong trực tiếp nhận “đơn xin bãi nại” (bản photo) không ghi ngày tháng năm 2001 của Trát Minh Dũng, “đơn xin bảo lãnh” của Châu Kim Hoa(chị ruột của Châu Phát Út) và công văn đề nghị của Hợp tác xã bốc xếp số 1 Bến Chương Dương do Châu Phát Lai Em (anh ruột của Châu Phát Út) đưa.
Các đơn này không được vào sổ đơn thư của Viện kiểm sát nhân dân quận 1. Ngay khi nhận đơn Nguyễn Bá Phong đã có ý kiến chỉ đạo trên “đơn xin bãi nại”: “cố ý gây thương tích do lỗi của người bị hại trước. Nay đã có đơn bãi nại, nếu thương tích không trầm trọng (11%) thì phận loại xử lí đề nghị công an “huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn”. Trong khi đó Cơ quan điều tra chưa chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát nhân dân quận 1 mà hôm sau 16.2.2001 công an quận 1 mới chuyển hồ sơ phê chuẩn lệnh tạm giam đối với bị can Châu Phát Út. mặt khác , lúc này kết luận pháp y xác định tỷ lệ thương tích của nạn nhân 31% vĩnh viễn. Nguyễn Bá Phong đã yêu cầu anh Nguyễn Thuỷ Chung là cán bộ tổng hợp hồ sơ vụ án này cho Phong, rồi sau đó đến ngày 21.2.2001 Phong đã giao trực tiếp cho kiểm sát viên Đinh Duy Hưng, mặc dù chức giao vụ án này cho cấp dưới để kiểm sát điều tra là trách nhiệm của ông Lê Mạnh Quân (Phó viện trưởng phụ trách án hình sự).
Sau khi Công an quận 1 chuyển kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân quận 1 như nêu ở trên, thì ngày 15.5.2001 Phong lại nhận trực tiếp “đơn xin cứu xét giám định lại vết thương” của bị hại, đơn của Châu Kim Hoa và công văn của Hợp tác xã bốc xếp số 1 cũng do Châu Phát Lai Em đưa và cũng không được vào sổ văn thư của viện. Nguyễn Bá Phong không chuyển đơn cho ông Lê Mạnh Quân để xem xét giải quyết hoặc chỉ đạo kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra làm rõ để trả lời bị hại mà lại có bút phê chỉ đạo kiểm sát viên Đinh Duy Hưng làm quyết định trưng cầu giám định lại thương tật theo yêu cầu của ngưười bị hại. Thực hiện ý kiến của Phong, kiểm sát viên Đinh Duy Hưng đã làm quyết định trưng cầu lại. Sau khi có kết luận giám định pháp y như đã nêu ở trên, Nguyễn Bá Phong đã chỉ đạo kiểm sát viên Đinh Duy Hưng viết đề xuất cho:
“Cho Châu Phát Út tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú” và trình ông Lê Mạnh Quân, ông Quân đã có bút phê :”Bị can phạm tội thuộc khoản 2 điều 104 BLHS (có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm ), mặt khác có tiền án thuộc tội đặc biệt nghiêm trọng, báo cáo Viện Trưởng quyết định”. Cùng ngày Nguyễn Bá Phong có ý kiến chỉ đạo: “…không có hành vi côn đồ…tính chất nguy hiểm không lớn. Do đó có thể truy tố ở khoản 1, tuy nhiên, cần xin ý kiến Phòng kiểm sát xét xử trước khi quyết định xử lý… duyệt huỷ bỏ biện pháp tạm giam…”.
Ông Đinh Duy Hưng, viết dự thảo công văn gửi phòng Kiểm sát điều tra Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để báo cáo vụ án và xin đường lối xử lý, ngày 16.7.2001 ông Quân đã ký “đồng ý” và Nguyễn Bá Phong đã sửa một vài ý trên bản thảo này. Nhưng sau đó Nguyễn Bá Phong lại quyết định không cần báo cáo Viện kiểm sát thành phố nên biên bản này không được phát hành và chỉ đạo ông Đinh Duy Hưng làm quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can để ông Lê Mạnh Quân, ký như đã nêu ở trên . Theo quy định án đình chỉ điều tra cuối tháng phải báo cáo và chuyển hồ sơ lên Viện kiểm sát cấp trên để kiểm tra, nhưng hồ sơ vụ án này sau khi bị đình chỉ không được chuyển lên Viện kiểm sát thành phố để kiểm tra.
Sau khi bị bắt và trưuocs cơ quan điều tra, ông ta đã khai : việc nhận đơn do Châu Phát Lai Em đưa đều không qua sổ văn thư của cơ quan là không đúng quy định của ngành. “Có đơn do Lai Em đưa từ đó tôi mới cho giám định lại Trát Minh Dung và cho tạm tha Châu Phát Út sau đó đình chỉ điều tra vụ án”. Nguyễn Bá Phong cũng thừa nhận con dao mà Châu Phát Út đã sử dụng để gây án là hung khí nguy hiểm. Nguyễn Bá Phong cũng thừa nhận người chịu trách nhiệm về việc đình chỉ điều tra vụ an, bị can Châu Phát Út là Phong.
Còn ông Đinh Duy Hưng cũng khai nhận: Khi nhận được đơn của người bị hại, có bút phê chỉ đạo của Nguyễn Bá Phong ngày 15.2.2001 do Phong đưa, ông Hưng biết vụ án này Nguyễn Bá Phong có quen biết với người nhà của bị can Châu Phát Út ,cụ thể hôm Phong nhận đơn là do Châu Phát Lai Em đưa. Ông Đinh Duy Hưng còn khai Nguyễn Bá Phong chỉ đạo ông Hưng vụ án này ngay từ đầu đến khi đình chỉ điều tra. Ông Hưng khai tiếp: Ngày 30.5.2001, khi anh Lê Mạnh Quân có ý kiến phải truy tố ở khoản 2 điều 104 như bút phê ở trên phiếu đề xuất, nhưng thấy Nguyễn Bá Phong ngay từ đầu đã đề nghị công an huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đối Châu Phát Út nên quan điểm của ông Hưng thiên hướng theo Phong. Cũng tại cơ quan điều tra, ông Lê Mạnh Quân khai rằng: “quan điểm từ trước cho đến nay là phải truy tố Châu Phát Út như bút phê ngày 30.5.2001, nhưng ông Quân kí quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can là phải chấp hành theo ý kiến của Viện trưởng vì

theo nguyên tắc “Thủ trưởng chế” của ngành Kiểm sát. Ông Lê Mạnh Quân cũng thừa nhận sai phạm của mình là không đấu tranh kiên quyết đối với Nguyễn Bá Phong và lẽ ra sau khi chấp hành quyết định của Viện Trưởng thì phải báo cáo lên lãnh đạo cấp trên nhưng không báo cáo.
Không những đã cố tình để lọt tội của tên Út, Nguyễn Bá phong còn có văn bản cản trở khi Công an quận 1 lập hồ sơ đề nghị đưa Châu Phát Út đi cơ sở giáo dục bắt buộc năm 2001, cho rằng Út không thuộc đối tượng đưa đi cơ sở giáo dục. Chính vì vậy tên Út tiép tục lộng hành cho đến khi băng nhóm Năm cam bị triệt phá.

Vụ Lê Duy Long cố ý gây thương tích (dùng dao chém Nguyễn Đăng Đức và Nguyễn Văn Thảo tại nagx ba Tống Duy Tân – Trần Phú, Hà Nội)

Khoảng 22 giờ ngày 19.8.2001, Lê Duy Long (Long “tây”) ngồi uống rượu với Nguyễn Xuân Trường, sinh năm 1974, trsu tại 28 tổ 7, Phúc Tân,Hoàn Kiếm, Hà Nội; Vũ Đình Thi, sinh năm 1974 trú tại 32B Phạm Ngũ Lão, Phạm Ngũ Lão, Hải Dương và một người bạn của Thi (chưa xác định được) tại quán Haleclub ở 64 Nguyễn Du, Hà Nội. Trong lúc uống rượu, Trường gọi điẹn rủ Nguyễn Đặng Đức (sinh năm 1969, trú quán 16 Hàn Thuyên,Hai Bà Trưng, Hà Nội) , Nguyễn Văn Thảo (sinh năm 1972, trú tại 13 Thanh Miến, Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội là bạn của Trường) đến uống rượu, Long say nên có hành vi đập phá cốc chén của quán.Anh Thảo và Đức can ngăn Long không cho đập phá nữa, Long thôi không đập phá nữa nhưng rất tức Thảo và Đức.
Khoảng 1 giờ 30 phút ngày 20.8.2001, Đức và Thảo đi ra ngã 3 Tống Duy Tân-Trần phú ngồi ăn phở, Long , Trường, Thi về sau . Trường có nói với Long say rượu thì về nhà nghỉ, còn Trường, Thi và bạn của Thi ra ngã ba Tống Duy Tân-Trần Phú gặp Thảo và Đức xin lỗi thay Long. Long ra gọi xe taxi Matiz để đi về, trên đường về Long nảy sinh ý định chém Đức và Thảo. Long vào quán bên đường lấy trộm 1 con dao (loại dao thái phở) rồi lên ô to ra ngã 3 Tông Duy Tân-Trần Phú.Thấy Đức , Thảo ,Trường, Thi ngồi ăn phở, Long cởi áo vắt lên tay che dao và xuống đi bộ vào hàng phở. Bất ngờ Long dùng dao chém anh Đức một nhát ngang mặt gây thương tích, sau đó cầm dao bỏ chạy thì bị Trường và Thảo đuổi theo. Long cầm dao chém tiếp vào anh Thảo bị rách da tay và bỏ trốn.
Ngày 18.12.2001 Long đến Công an quận Hoàn Kiếm tự thú khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân và bồi thường thương tích cho anh Nguyễn Đăng Đức. Anh Đức có đơn đề nghị không truy tố đối với Long , còn anh Thảo bị rách da không yêu cầu bồi thường thương tích nên công an quận Hoàn Kiếm đã áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 21.12.2001, do yêu cầu đối tượng có liên quan trong vụ án Năm Cam do Bộ công an đang chỉ đạo điều tra nên Công an quận Hoàn Kiếm ra lệnh bắt tạm giam Lê Duy Long (có phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm).
Về thương tích của bị hại Nguyễn Đăng Đức, tại giấy chứng nhận thương tích số 89 ngày 10.9.2001 của Viện răng hàm mặt Hà Nội xác định : có 1 vết thương trên mũi dài 7cm xuyên thấu suốt chiều cao thóp mũi. tại bản giám định y pháp số 939/01 ngày 4.10.2001 của tổ chức Giám định pháp y Trung ương kết luận tỉ lệ thương tật là 30%.
về thương tích của bị hại Nguyễn Văn Thảo, tại giấy chứng nhận thương tích số 85 ngày 21.9.2001 của bênh viện hữu nghị Vn- Cuba xác định: có vết thương rách da kẽ ngón1,2 tay trái kích thước 0.7×2.5 cm. Cơ quan cảnh sát điều tra yêu cầu anh Thảo đi giám định tỉ lệ thương tật nhưng anh Thảo từ chối giám định.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Duy Long thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Đăng Đức số tiền mà anh Đức có đơn yêu cầu là 10 triệu đồng. Anh Đức đã nhận đủ 10 triệu đồng và có đơn đề nghị không truy tố đối với bị can Long. Đối với bị hại Nguyễn Văn Thảo không yêu cầu bồi thường thương tích, chỉ đề nghị xử lí bị can Long theo quy định cảu pháp luật.
Nguồn gốc con dao sử dụng gây án là do Long lấy tại một quán phở mà Long không nhớ dược ở phố nào, do đó không xác định được chủ sở hữu. Sau khi gây án Long đã vứt con dao trên đường bỏ chạy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.

Hành vi của Lê Duy Long đã phạm vào tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại khoản 2 điều 104 BLHS.

Vụ Hải “bánh” cố ý gây thương tích (dùng đĩa đựng thức ăn đập vào đầu anh Lê Quang Hiếu tại quán ăn Tân Hải Vân, đường Nguyễn Trãi , Bến Thành, quận 1, thánh phố Hồ Chí Minh).
Hồi 0 giờ 30 phút ngày 24.5.2001, trước quán ăn Tân Hải Vân, Hải “bánh” (sinh 1967, trú tại 36 hàng cót, hàng mã, Hoàn Kiếm , Hà Nội), ngồi chờ đồ ăn cùng 3 thanh niên là Nguyễn Toàn Thắng(sinh 1975, ngụ 66/3 Phó Đức Chính, Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tiến Minh (anh của Thắng , sinh năm 1965) và Phạm Chung Thành (sinh 1973, đối tượng sống lang thang). Lúc đó, anh Lê Quang Hiếu (sinh 1974, ngụ 364/8A Cộng Hoà, phường 13, Tân Bình) từ quán ăn Dìn Ký đi bộ băng qua gặp Thành. Do có mâu thuẫn với nhau từ trước, Hiếu đã đấm anh Thành ngã xuống đất, tiếp theo Hiếu đá 1 cái vào ngực anh Thành.
Lúc này Nguyễn Toàn Tahnwgs đứng dậy can ngăn không cho Hiếu đánh nữa và Thành bỏ chạy vào quán ăn Tân Hải Vân. Thắng can ngăn và đưa Hiếu về quán ăn Dìn Ký.
Hải “bánh” đi tới bàn chén đĩa nấu ăn của quán Dìn Ký lấy 3 cái đĩa đến cách chỗ Hiếu đứng 1.5m, Hải ném mạnh vào vùng trán bên trái của Hiếu. Bạn của Hiếu đưa Hiếu vào bệnh viện Sài Gòn cấp cứu, khâu vết thương.
Sau khi đánh Hiếu, Hải “bánh” cùng Thắng, Minh ,Thành đi về quán Hoạ Mi trên đường Nguyễn Đình Chiểu. chiều 24.5.2001, Hải “bánh” trốn ra Vũng Tàu, 21 giờ ngày 29.5.2001, Hải “bánh” trở về thành phố Hồ Chí Minh và bị bắt tại quán karaoke trên đường Nguyễn Biểu, quận 5.
tại biên bản giám định pháp y số 732/TT.01 ngày 29.5.2001 của tổ chức giám định pháp y tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Lê Quang Hiếu có 3 vết thương rách da vùng trán đỉnh trái, sẹo 2cm-2cm-1cm, tỉ lệ thương tật toàn bộ 0.5% vĩnh viễn”.
Qua đấu tranh khai thác, Hải”bánh” đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hơph với lời khai nhân chứng, bị hại và tài liêuh mà cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được đã cỏ đủ cơ sở kết luận Nguyễn Tuấn Hải phậm tội cố ý gây thương tích, có tính chất côn đồ hung hãn, tội danh được quy định tại điểm i, khoản 1, điều 104 BLHS.
Ngày 1.6.2001, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận 1 , thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố Hải “ bánh” về tội gây rối trật tự công cộng. Ngày 10.8.2002, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an đã thay đổi tội danh đối với Hải “bánh” từ tội gây rối trật tự công cộng sang tội cố ý gây thương tích để kết luận và nhập vào vụ án Năm Cam đề nghị xét xử chung.

Các vụ cưỡng đoạt tài sản:
Trong quá trình điều tra vụ án Năm cam cùng đồng bọn phạm tội, cơ quan cảnh sát điều tra nhận được rất nhiều đơn thư và điện thoại của quần chúng nhân dân tố cáo hành vi cưỡng đoạt tài sản của một số tên (đàn em của năm cam) trên nhiều địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, bằng các hình thức bảo kê nhà hàng, vũ trường, các khu vực chợ và các trung tâm buôn bán lớn. Thủ đoạn của bọn chúng làquậy phá , đánh đập bắt người dân ở những nơi này phải đưa tiền hoặc đáp ứng yêu cầu khác của chúng. Đây là một hiện tượng phức tạp đang diễn ra tại một số tụ điểm của Thành Phố Hồ Chí Minh. Qua điều tra, cơ quan điều tra đã có đủ cơ sở kết luận hành vi cưỡng đoạt tài sản của một số đối tượng, cụ thể như sau:
Hành vi cưỡng đoạt tài sản của Nguyễn Minh Khánh
Sau khi nhận được đơn của anh Nguyễn Minh Đức chủ khách sạn Minh Thắng (số 53/1 Nguyễn Khắc Nhu, Cô Giang, quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh) tố cáo Nguyễn Minh Khánh (Khánh “bà mì”) đến quậy phá khách sạn, yêu cầu anh Đức hàng tháng phải đưa tiền bảo kê. từ tháng 1.1996 đến tháng 2.2002 anh Đức đã phải đưa cho Khánh mỗi tháng 1,5 triệu đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an đã tiến hành thu nhập các tài liệu

chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Minh Khánh. Kết quả điều tra nay có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Minh Khánh phạm tội cưỡng đoạt tài sản:
– Bị can Hứa Văn Em dang bị khởi tố về tội tổ chức đánh bạc khai: Vào một buổi sáng khi Hứa Văn Em đang ngồi ăn sáng , uống nước với Châu Phát Lai Em ở ngã tư đường Ký con-Nguyễn Công Trứ ở quận 1 thì thấy Nguyễn Minh Khánh đến xin phép Châu Phát Lai Em cho thu tiền bảo kê khách sạn Minh Thắng mỗi tháng 5 triệu đồng, Lai Em không đồng ý mà chỉ cho Khánh thu 1.5 triệu đồng mỗi tháng vì khách sạn Minh Thắng là của Nguyễn Minh Đức (em vợ cảu Hứa Văn Em). Sau đó Hứa Văn Anh về nói lại việc này với anh Đức về nội dung Khánh xin tiền bảo kê khách sạn Minh Thắng. từ đầu năm 1996 đến tháng 2.2002, hàng tháng anh Đức đều phải đưa cho Khánh 1.5 triệu đồng.
– Châu Phát Lai Em khai: Vào cuối năm 1995, Lai Em được Hứa Văn cho biết hiện khách sạn Minh Đức của anh Đức là em vợ Hứa Văn Em bị Nguyễn Minh Khánh đến quậy phá đòi tiền bảo kê và nhờ Lai Em can thiệp. Một hôm khi Lai Em đang ngồi ăn sáng, uống nước với Hứa Văn Em thì Nguyễn Minh Khánh đến, khi đó Lai Em có mắng Khánh rồi để cho Hứa Văn Em và Khánh trao đổi với nhau. Về nội dung trao đổi, Lai Em khai vì đã lâu nên Lai Em không nhớ.
– Anh Tuấn, anh Thạch, anh Đông là nhân viên bảo vệ khách sạn Minh Thắng xác định có biết việc Nguyễn Minh Khánh đến nhận tiền bảo kê hàng tháng; tháng 2.2002 anh Đông vẫn thấy Khánh đến nhận tiền bảo kê

Qua đấu tranh khai thác bị can Nguyễn Minh Khánh, sinh năm 1968 là đối tượng nghiện hút, sống ở lầu 5, lô C, chung cư Cô Giang, Cô Giang, quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh cũng thừa nhận đã cưỡng đoạt tài sản của anh Đức và xác định việc anh Đức tố cáo là đúng đồng thời khai nội dung diễn biến như sau: Vào cuối năm 1995 Khánh thấy có một số khách đến ăn nghỉ tại khách sạn Minh Thắng, do đó Khánh đã đến yêu cầu chủ khách sạn Minh Thắng phải chi tiền bảo vệ hàng tháng, nếu không Khánh sẽ tìm cách ngăn cản khách vào nghỉ tại khách sạn Minh Thắng. Khi Khánh đang “quậy” thì thấy Châu Phát Lai Em và môt số thanh niên đi xe máy đến và yêu cầu sang hôm sau đến quán nước ở đường Ký Con để bàn. Theo hẹn sáng hôm sau, Khánh đến quán nước thì thấy Châu Phát Lai Em đang ngồi uống nước với Hứa Văn Em, khi đó Châu Phát Lai Em có hỏi Khánh tại sao đến khách sạn Minh Thắng quậy phá. Khánh nói vì không có việc làm nên muốn làm “bảo vệ” khách sạn; sau đó thấy Hứa Văn Em có nói là sẽ về bảo anh Đức chủ khách sạn mỗi tháng đưa cho Khánh 1,5 triệu đồng, do đó mỗi tháng Khánh đã đến nhận 1.5 triệu đồng; tháng 2.2002 Khánh vẫn đến khách sạn để nhận tiền. Còn việc Khánh khai đến xin làm bảo vệ là lời khai chống chế để chối tội . Số tiền cưỡng đoạt của anh Đức,Khánh dùng để hút chích ma tuý và tiêu cá nhân.

Như vậy, bằng cách đến khách sạn quậy phá, đe doạ ép buộc khách sạn phải chi tiền bảo kê mà trong suốt thời gian từ tháng 1.2001 đến tháng 2.2002, Nguyễn Minh Khánh luôn đến nhận tiền bảo kê hàng tháng 1.5 triệu đồng.

Quá trình điều tra xác định Châu Phát Lai Em đã có sự can thiệp vào hành vi cưỡng đoạt tài sản của Khánh nhưng chưa xác định được Lai Em chủ mưu hoặc cùng tham gia và ăn chia số tiền đã cưỡng đoạt với Khánh nên chưa có đủ cơ sở kết luận Châu Phát Lai Em tội cưỡng đoạt tài sản cùng với Nguyễn Quốc Khánh về hành vi này.

Hành vi cưỡng đoạt tài sản của Nguyễn Minh Khánh tại khách sạn Minh Thắng diễn ra trong thời gian dài, liên tục, thể hiện sự coi thường pháp luật gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương cần phải xử lí nghiêm minh trước pháp luật.

Hành vi của Nguyễn Minh Khánh đã phạm tội cưỡng đoạt tài sản, tội danh được quy định tại khoản 2, điều 135 BLHS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hành vi cưỡng đoạt tài sản của Đỗ Đạt Giang

Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an đã nhận được đơn thư của chị Đỗ thị Thanh Tuyền tố cáo Đỗ Đạt Giang cưỡng đoạt của chị căn hộ số 21/15A đường Trường Sơn; đơn của bà Nguyễn Thị Ngọc Nương (mẹ của chị Tuyền) tố cáo Đỗ Đạt Giang đã cưỡng đoạt 5 lượng vàng và cưỡng đoạt của chị Tuyền ngôi nhà 21/15A đường Trường Sơn. Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an đã tiến hành điều tra thu nhập tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Giang. Đến nay đã có đủ cơ sở kết luận Đỗ Đạt Giang phạm tội cưỡng đoạt tài sản bởi các căn cứ cụ thể như sau:

Hành vi cưỡng đoạt căn nhà 21/15A đường Trường Sơn

– Chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền có khai: năm 1996 , chị Tuyền có quen biết với Đỗ Đạt Giang. Tuyền đã thuê căn nhà 21/15A đường Trường Sơn của anh Trần Huy Hoan để ở và đã sinh sống với Giang ở đây như vợ chồng. Năm 1998, chị Tuyền đã mua lại căn nhà này với giá 52 lượng vầng. Toàn bộ quá trình giao dịch, mua bán, Tuyền đều làm trực tiếp với anh Hoan, giấy toà mua bán căn nhà này cũng do anh Hoan viết cũng ghi bán căn nhà này cho Tuyền, nhưng sau đó Đỗ Đạt Giang đã nhiều lần đánh Tuyền, bắt Tuyền phải ghi thêm tên Giang vào trong giấy mua bán, Khi Tuyền về nhà mẹ đẻ ở, giáy tờ căn nhà này Tuyền gửi bà Nương (mẹ của Tuyền), nhưng Giang đã đến đe doạ ép bà Nương phải giao toàn bộ giấy tờ nhà cho Giang và bắt Tuyền phải viết giấy cam kết không tranh chấp ngôi nhà này với Giang. Quá trình mua bán này Giang chỉ tham gia ở giai đoạn cuối là khi đến hạn thanh toán số tiền còn thiếu, lúc đó Tuyền không có tiền nên đã nhờ anh Hoan giới thiệu đến vay tiền của anh Chí ở 198 Trần Quốc Thảo , phường 7, quận 3 với lãi suất 3%/tháng. Lúc đầu anh Chí chưa đồng ý cho vay, sau đó mấy ngày anh Chí mới đồng ý . Khi đến nhà anh Chí để hỏi vay tiền thì có Giang đi cùng và khi đến nhận tiền của anh Chí, Giang cũng đi cùng và Giang trực tiếp viết giấy vay tiền của anh Chí thay cho Tuyền. Xác minh lời khai của Tuyền kết quả như sau:
– Anh Trần Huy Hoan, chủ căn nhà 21/15A đường Trường Sơn xác định chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền là người trực tiếp mua căn nhà 21/15A đường Trường Sơn với giá 52 lượng vàng, đã trả đủ tiền cho anh Hoan. mọi vấn đề mua bán và thanh toán do Tuyền trực tiếp, riêng chỉ có lần cuối cùng đi vay tiền của anh Chí để trả tiền cho anh Hoan thì Giang có tham gia và là người ký giấy vay tiền của anh Chí. Anh Hoan khẳng định giấy mua bán căn nhà này chỉ có anh Hoan và Tuyền kí chứ không có Giang, còn hiện nay tại sao tờ giấy này lại có tên Giang ký thì anh Hoan không rõ. lời khai này phù hợp với lời khai của chị Tuyền về việc Giang bắt Tuyền phải để Giang ký thêm vào giấy mua bán.
– Anh Bùi Quốc Chí ở 193 Trần Quốc Thảo, phường 7, quận 3 xác định: Anh Hoan là người dẫn Tuyền và Giang đến nhà anh Chí hỏi vay tiền để trả cho anh Hoan. Khi anh Hoan cho Tuyền và Giang vay 7 lượng vàng thì Giang là người viết giấy vay tiền của anh Chí với lãi suất 3%/tháng. Sau khi vay thì chị Tuyền là người trả tiền lãi cho anh Chí. Hết thời hạn vay anh Chí đã đòi nhiều lần thì Giang mới trả cho anh Chí 5 lượng vàng , còn nợ 2 lượng vàng, nhưng khi trả thì anh Chí thấy bà Nương (mẹ chị Tuyền) là người mang đến giao cho anh Chí. Cụ thể hôm đó Giang hẹn anh Chí đến nhà Giang để Giang trả tiền. Theo hẹn, anh Chí đến nhà Giang nhưng khi đến thì Giang chưa có tiền trả, đợi 1 lúc sau thì thấy có một người phụ nữ mang đến 5 lượng vàng giao cho anh Chí. Khi đó, Giang cho anh Chí biết người này là bà Nương mẹ chị Tuyền, anh Chí thấy Giang hỏi bà Nương là sao không mang hết, thì bà Nương trả lời chỉ vay được có vậy.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Nương là mẹ của Tuyền cũng có đơn tố cáo Đỗ Đạt Giang cưỡng đoạt của Tuyền căn nhà 21/15A đường Trường Sơn, và trình bày là khi Tuyền bị Giang đánh đập nhiều nên không sống với Giang ở căn nhà 21/15A đường Trường Sơn nữa mà bỏ về ở với bà Nương. Khi về Tuyền có đem theo giấy tờ căn nhà này và gửi bà Nương giữ hộ, nhưng sau đó Giang đã đến đe doạ, ép bà Nương phải giao cho Giang giấy tờ căn nhà này, Giang đe

doạ nếu không đưa Giang sẽ cho nổ mìn căn nhà bà Nương đang sống. Do quá sợ hãi nên bà Nương đã phải giao giấy tờ cho Giang. Trước lúc Giang đến ép bà Nương phải giao giấy tờ nhà thì chị Thuỷ là chị của Giang có đến nhà bà Nương để gặp Tuyền bàn bạc việc thanh toán tiền hội, nên đã chứng kiến.

Đỗ Thị Thu Thuỷ làc hị của Giang xác định có chơi hội với Tuyền, do đó có đến nhà bà Nương để gặp Tuyền nhưng Tuyền không có ở nhà. Sau đó, Thuỷ thấy Giang đén nhà bà Nương, nhưng đến làm gì và trao đổi gì thì Thuỷ không nhớ.

Anh Nguyễn Văn An là hàng xóm cạnh nhà 21/15A đường Trường Sơn khai chính anh là người giới thiệu cho Tuyền mua căn nhà 21/15A của anh Hoan. Khi chị Tuyền giao tiền lần đầu cho anh Hoan thì được anh Hoan và chị Tuyền mời sang chứng kiến. Anh An thấy Giang thường đánh Tuyền, nhưng khi đnáh Tuyền thì cửa nhà đều đóng kín, mọi người không vào được để can ngăn, nên không biết Giang đánh thế nào mà chỉ nghe tiếng kêu la của chị Tuyền. thời gian Tuyền bỏ đi không thấy sống với Giang nữa thì thấy Tuyền bị đánh nhiều hơn, khi chị Tuyền bỏ đi không sống với Giang nữa thì chị Tuyền có sang nhà anh An nói cho vợ chồng anh An biết là bị Giang đánh đập quá nhiều nay không thể sống chung với Giang được nữa mà về nhà mẹ đẻ ở.

Các điều tra viên đấu tranh với Đỗ Đạt Giang thì Giang ngoan cố không thừa nhận hành vi này và khai chính Giang là người bỏ tiền ra mua căn nhà này. Mọi quan hệ mau bán với anh Hoan đều do Giang trực tiếp quan hệ còn Tuyền chỉ là người đi cùng với Giang, ở giai đoạn cuối khi Giang đến vay tiền anh Chí để trả cho anh Hoan. lời khai của Giang không đúng với lời khai của anh Hoan về việc bán nhà cho Tuyền và không phù hợp với lời khai của anh An là người đã chứng kiến khi Tuyền thanh toán tiền cho anh Hoan. Hơn nữa, Đinh Văn Được là anh rể của Giang cũng khai Giang hoàn toàn không có tiền, khi Giang ăn ở với Tuyền như vợ chồng thì mọi chi phí trong cuộc sống đều dựa vào Tuyền vì Tuyền có chồng ở nước ngoài thường gửi tiền về cho Tuyền. Lời khai này của Được phù hợp với lời khai của Tuyền về việc này.

Với các căn cứ nêu trên thấy có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thanh Tuyền là người đã mua căn nahf 21/15A đường Trường Sơn của anh Trần Huy Hoan. Giai đoạn cuối , Giang mới đi cùng với Tuyền và anh Hoan đến nhà anh Chí vay vàng và đã thay mặt Tuyền kí giấy vay vàng của anh Chí. Việc Giang ép buộc Tuyền phải để Giang kya thêm vào tờ giấy mua bán nhà, ép lấy toàn bộ giấy tờ nhà và sau đó lại bắt Tuyền viết giấy cam kết không tranh chấp căn nhà để chiếm đoạt đã cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản. Sau khi chiếm đoạt được căn nhà này thì anh Chí đến đòi số vàng mà Giang và Tuyền đã vay trả anh Hoan, nên Giang đã phải trả cho anh Chí 5 lượng vàng. Như vậy thực tế số vàng phải trả cho anh Hoan là 52 lượng, trong đó có 7 lượng cảu anh Chí. Sau đó Giang đã phải trả cho anh Chí 5 lượng. Do đó xác định giá trị tài sản cảu Tuyền mà Giang đã chiếm đoạt là 45 lượng vàng.

Hành vi cưỡng đoạt tài sản 5 lượng vàng của Nguyễn Thị Ngọc Nương

Bà Nguyễn Thị Ngọc Nương cũng có đơn tố cáo Đỗ Đạt Giang cưỡng đoạt bà Nương 5 lượng vàng. Cụ thể vào năm 1997 Nguyễn Thanh Tuyênf và Nguyễn Thị Ngọc Xuân là con gái bà Nương chung nhau mua căn nhà số 129/3 Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp ,lúc đó chìa khoá căn nhà do Tuyền nắm giữ(khi đó Giang và Tuyền vẫn còn sống chung với nhau). Sau đó, bà Nương đã mua lại căn nhà này và đã làm đầy đủ các giấy tờ sang tên cho bà Nương(đã thu bản photocopy giấy tờ mua bán, sang tên căn nhà, sang tên căn nhà cho bà Nương). Khi bà Nương muốn bán căn nhà này thì Giang gây khó khăn không cho bán và không tra lại bà Nương chìa khoá căn nhà này. Giang yêu cầu bà Nương phải đưa cho Giang 10 lượng vàng thì Giang mới trả sau đó do cần bán nhà và sợ Giang gây khó dễ nên bà Nương đã chấp nhận đưa 5 lượng vàng đến nhà Giang và giao cho Giang. Khi đến bà Nương thấy trong nhà Giang còn hai người đàn ông nữa nhưng bà Nương không biết đó là ai

Anh Bùi Quốc Chí khai: Giang hẹn anh Chí đến nhà Giang để Giang trả tiền. Theo hẹn, anh Chí đến nhà Giang nhưng khi đến thì Giang chưa có tiền trả, đợi 1 lúc sau thì thấy có một người phụ nữ mang đến 5 lượng vàng giao

cho anh Chí Khi đó, Giang cho anh Chí biết người này là bà Nương mẹ chị Tuyền, anh Chí thấy Giang hỏi bà Nương là sao không mang hết, thì bà Nương trả lời chỉ vay được có vậy.

Căn cứ vào các tài liệu nêu trên thấy có đủ cơ sở kết luận Giang đã cưỡng đoạt của bà Nương 5 lượng vàng.

Hành vi cưỡng đoạt 30 triệu đồng của anh Lâm Hưng Quốc

Nguyễn Thanh Tuyền khai: Vào 1988, do quen biết với anh Lâm Hưng Quốc nên anh Quốc có nhờ chị Tuyền làm giúp hồ sơ hoàn công xưởng dệt, anh Quốc đã đưa cho chị Tuyền 100 triệu đồng. Tuyền đã nhờ anh Thức và anh Vinh làm giúp với thoả thuận là Tuyền sẽ trả 40 triệu đồng, Tuyền đã ứng trước cho anh Vinh 10 triệu, ứng trước cho anh Thức 15 triệu đồng để làm các giấy tờ hoàn công. Đến năm 1999 thì anh Thức và Vinh mới làm xong giấy tờ hoàn công(khi đó thì Tuyền không còn ở chung với Giang tại 21/15A đường Trường Sơn nữa). Khi anh Thức và Vinh mang giấy tờ hoàn công đến trả thì không cóTuyền ở đó nên anh Vinh và anh Thức đã giao hồ sơ này cho Giang. lợi dụng việc này Giang đã buộc anh Quốc phải đa cho Giang 30 triệu thì Giang mới đưa hồ sơ này cho anh Quốc.

Anh Trần Quang Vinh và anh Vũ Huy Thức khai: vào năm 1998 Vinh có nhận làm cho Tuyền hồ sơ hoàn công xưởng dệt của anh Quốc (bạn của Tuyền) với giá 40 triệu đồng. Vinh về giao cho anh Thức làm 1 phần với giá 30 triệu đồng, còn Vinh làm 1 phần trị giá 10 triệu đồng. Tuyền đã đưa đủ cho Vinh 10 triệu đồng, còn đưa cho Thức bao nhiêu thì Vinh không biết. Khi làm hồ sơ xong thì Thức và Vinh mang hồ sơ đến 21/15A đường Trường Sơn để giao hồ sơ cho Tuyền nhưng không gặp được Tuyền, Giang nói Tuyền đã bỏ đi và không có nhà. Do anh Thức và Vinh đã biết Giang từ trước và tưởng Giang và Tuyền là hai vợ chồng nên đã giao hồ sơ cho Giang. Khi giao hồ sơ anh Thức yêu cầu phải đưa thêm 15 triệu đồng nữa vì anh Thức mới chỉ nhận 15 triệu. Khi đó Giang chỉ đưa trả 10 triệu đồng và nói thế là đủ nên Thức và Giang cãi nhau, thấy Giang không sòng phẳng nên anh Vinh đã bỏ thêm ra 5 triệu đồng để trả cho anh Thức cho đủ 15 triệu đồng mà anh Thức yêu cầu.

Anh Lâm Hưng Quốc khai: vào năm 1998 anh Quốc có nhờ Tuyền làm giúp hồ sơ hoàn công xưởng dệt với tiền công và chi phí là 100 triệu đồng, số tiền này anh Quốc đã đưa đủ cho Tuyền. Anh Quốc đã nhiều lần đến nahf yêu cầu làm sớm nhưng mãi đến năm 1999 hồ sơ mới làm xong. Khi anh Quốc đến để yêu cầu trả lại hồ sơ thì Giang nói Tuyền đã bỏ đi, hồ sơ hoàn công Giang đang giữ và yêu cầu anh Quốc phải đưa cho Giang 30 triệu đồng nữa để Giang giao hồ sơ. Vì cần lấy hồ sơ này nên anh Quốc đã chấp nhận đưa cho Giang 30 triệu đồng.

Căn cứ vào tài liêu nêu trên thấy: khi anh Thức và anh Vinh mang bộ hồ sơ hoàn công đến trả lại thì Tuyền không còn ở với Giang nữa. lợi dụng việc này Giang đã bỏ ra 10 triệu trả anh Thức để nhận lại hồ sơ này , rồi sau đó ép buộ anh Quốc phải đưa cho Giang 30 triệu đồng.

Hành vi cưỡng đoạt 100 triệu của chị Lê Thị Hồng Ngọc

Chị Lê Thị Hồng Ngọc khai: Giang biết gia đình chị Ngọc mở quán ăn Tân Hải Vân ở số 162 đường Nguyễn Trãi, thì cứ đến khoảng 23 giờ, Giang lại đến ngồi ở quán nói là đến để giúp, nhưng thực tế Giang chỉ ngồi ở đó mà
không làm gì khiến cho gia đình chị Ngọc và những người làm trong quán này rất khó chịu nhưng không dám nói gì. chị Ngọc thường ở quán về nhà rất khuya, nên Giang đã đe doạ là đi đường rất hay bị cướp hoặc giật đồ rồi qua đó lấy cớ đưa chị Ngọc về để nhận tiền hàng tháng. Theo chị Ngọc khai lần đầu chị Ngọc đưa cho giang 50 triệu đồng để Giang mua xe máy và lấy vỗn làm ăn, sau đó khoang 7 đến 10 ngày chị Ngọc lại đưa cho Giang 1 triệu đồng.
thời gian băt đầu đưa tiền cho Giang từ khoảng cuối năm 2000 cho đến tháng 8.2001 thì chị Ngọc không cho Giang đến quán nữa vì khi đó chị Ngọc nghe nhiều khách đến chơi nói Giang là người xấu. Khi đuổi không cho Giang đến quán, chị Ngọc có bảo Giang nếu làm quá thì chị Ngọc sẽ báo công an, do đó không thây Giang đến quậy phá gì.

Đỗ Đạt Giang cũng xác nhận lúc đầu chị Ngọc nói cho Giang 50 triệu để cho Giang mua xe và có vốn làm ăn nhưng thực tế chị Ngọc chỉ đưa 30 triệu đồng, số tiền này Giang đã dùng vào việc mua xe máy. Bắt đầu từ thắng 4 hoặc tháng 5.1999 thì Giang đến làm ở quán Tân Hải Vân cho đến tháng 6.2001 thì nghỉ,trong thời gian làm ở đây thì mỗi tháng chị Ngọc đưa cho Giang từ 4 đến 5 triệu đồng. Giang khai tổng số tiền mà Giang đã nhận từ chị Ngọc là khoảng 100 triệu đồng.

Căn cứ vào tài liệu trên có đủ cơ sở kết luận, bằng hình thức bảo kê , đe doạ tinh thần với chị Lê Thị Hồng Ngọc, Đỗ Đạt Giang đã cưỡng đoạt của chị Ngọc 100 triệu đồng.

Ngoài ra Giang còn khai: thông qua Đinh Văn Đượcmà Giang quen biết với Năm cam, có thời gian Giang được Năm cam cho đi theo làm vệ sĩ. Trong quá trình quen biết , Giang được Năm cam giao cho 6 nhà hàng, vũ trường nhận tiền bảo kê hàng tháng về cho Năm cam, mỗi tháng Năm cam cho Giang 2 triệu đồng. Cụ thể, Giang đã đến:

Nhà hàng Đại Phú Thành, nhận mỗi tháng 8 triệu đồng và nhận từ đầu năm 2000 cho đến khi bị bắt. Nhà hàng Hong Kong, nhận mỗi tháng 8 triệu đồng và nhận từ năm 2000 cho đến khi bị bắt.
Nhà hàng New Word, nhận mỗi tháng 8 triệu đồng và nhận từ năm 2000 cho đến khi bị bắt.

Nhà hàng vũ trường Maxim , nhận mỗi tháng 20 triệu đồng và nhận từ giữa năm 2000 cho đến khi bị bắt. Vũ trường Queenbee, nhận mỗi tháng 20 triệu đồng và đã nhận từ cuối năm 2000 cho đến khi bị bắt.
Vũ trường Metropolis, nhận mỗi tháng 20 triệu đồng và đã nhận từ cuối năm 2000 cho đến khi bị bắt.

Nhưng qua đấu tranh khai thác Năm cam không khai nhận hành vi này, kết quả xác minh tại các nhà hàng, khách sạn trên thì các chủ nhà hàng, khách sạn đều không thừa nhận có nộp tiền bảo kê. Do đó không có cơ sở kết luận.

Như vậy, với các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận Đỗ Đạt Giang đã cưỡng đoạt của Nguyễn Thanh Tuyền căn nhà 25/15A đường Trường Sơn, giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 45 lượng vàng mà chị Tuyền đã thanh toán trả cho anh Hoan khi mua nhà; chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Ngọc Nương 5 lượng vàng; chiếm đoạt của chị Lê Thị Hồng Ngọc 100 triệu dồng, chiếm đoạt cảu anh Lâm Hưng Quốc 30 triệu đồng. Tổng số tài sản mà Giang đã chiếm đoạt gần 50 lượng vàng và 130 triệu đồng.

Đỗ Đạt Giang là một đối tượng hình sự phạm tội chuyên nghiệp trong thời gian dài, là đàn em thân tín của Năm cam, đã lợi dụng vị thế của Năm cam để đe doạ cưỡng đoạt tài sản của nhiều người. Hành vi của Giang rất trắng trợn, mang tính côn đồ hung hãn, coi thường kỷ cương pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho những người khác.

Các vụ cưỡng đoạt tài sản

Hành vi cưỡng đoạt tài sản của Châu Phát Lai Em và hai đồng phạm là Trần Văn Minh và Lê Văn Thơm.

Qua đấu tranh khai thác , bị can Trần Văn Minh khai là đệ tử của Châu Phát Lai Em, luôn sẵn sàng đi quậy phá ở bất kỳ nơi nào theo yêu cầu của Lai Em, ngay cả việc quậy phá ở chợ. Năm 1983, để lấy uy tín với anh Phương cảnh sát khu vực và công an phường Cầu Ông Lãnh, Lai Em bảo Minh cầm dao doạ chém anh Phương rồi Lai EM sẽ vào can ngăn để láy uy tín với anh Phương.

Minh đã làm theo rồi bị bắt đưa đi lao động cưỡng bức. Khi Minh đi cưỡng bức lao động về thì Lai Em đã giơid thiệu Minh với anh Phương và bố trí ngay Minh vào làm ở tổ dân phòng do anh Phương – cảnh sát khu vực phụ

trách. Lai Em có tổ chức đá gà ở chợ nên đã giao nhiệm vụ cho Minh ở tổ dân phòng là phải thông tin cho Lai EM các chiến dịch truy quét tội phạm của cơ quan công an. Lai Em, Lai Anh, Lai Út là ba anh em rất nổi tiếng trong giang hồ, đặc biệt là khu vực Cầu Ông Lãnh, ai muốn làm gì phải được sự đồng ý của Lai Em, nếu không sẽ bị đàn em của Lai Em đến quậy phá, không thể làm ăn buôn bán được. Năm 1986, Lai Em đã dẫn Minh, Thơm “đui”, Thành và anh Phương cảnh sát khu vực đến từng ô cá yêu cầu mỗi ô phải nộp 120.000 đồng rồi tuyên bố các ô cá mỗi tháng phải nộp 120.000 đồng và nói đó là tiền bảo vệ. Vì sợ Lai Em quậy nên các ô cá đều nộp, hàng tháng thì anh Thành đến cầm sổ đến từng ô cá thu tiền về lại nộp cho anh Phương, anh Phương lại chia lại cho mỗi người
300.000 đến 500.000 đòng/tháng. việc thu tiền này được duy trì từ đó cho đến khi Minh bị bắt, sau đó thì anh Phương nghỉ việc thì anh Biết về thay anh Phương, Lai Em lại cũng dẫn cả bọn Minh và anh Biết đi đến từng ô cá để “dằn mặt” yêu cầu các ô cá phải nộp tiền hàng tháng. Sau anh Biết là anh Hùng làm cảnh sát khu vực thì hàng tháng nhóm của Minh đều có ngưười cầm sổ đến thu tiền của từng ô cá, đầu tiên là anh Thành đi thu, sau anh Thành nghỉ thì thay anh Phàn, sau khi anh Phàn chết thì thay anh Pha. Ngoài khoản thu này ra thì nhóm của Minh và Thơm “đui” còn thu tiền của các xe ô tô chở cá vào chợ (gọi là tiền bến bãi) mỗi xe Minh và Thơm “đui” thu từ 20.000 đến
30.000 đồng. Số tiền này đều đưa cho cảnh sát khu vực để chi cho các anh ở tổ dân phòng. Đến năm 1997 do các đơn tố cáo của nhân dân về việc này, phòng cảnh sát điều tra công an thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành điều tra, sau đó Uỷ ban nhân dân phường đã cử người ra thu tiền bến bãi và bọn Minh không được thu nữa. Do đó Minh đã xin phép Lai Em cho mình thu riêng tiền bảo kê 3 ô cá. Đó là ô Năm “mọi” thu 600.000 đồng/tháng, ô Hùng Nho thu 200.000 đồng/tháng, ô Mai thu 100.000 đồng/tháng. Hàng tháng Minh giao cho Thơm “đui” đi thu số tiền này về giao cho Minh, mỗi tháng Minh chia cho Thơm “đui” 200.000 đồng.

Châu Phát Lai Em khai: để thu được tiền bảo kê các ô cá, Lai Em cho Minh và đàn em của Minh quậy phá các ô cá, để các chủ ô cá phải nhờ Lai Em can thiệp, do đó Lai Em yêu cầu họ phải nộp tiền hàng tháng. Lai Em trực tiếp thu tiền của các ô cá Tâm, Hoa San, Ngọc, Năm “mọi”, Hồng Lệ, Hai Bòn mỗi ô 1.000.000 đồng/tháng, còn các ô khác để Minh thu. Ngoài ra Minh còn xin phép Lai Em thu thêm tiền bến bãi và Lai Em đã đồng ý cho Minh thu mỗi xe từ 20.000 đến 30.000 đồng. Mỗi ngày, Minh thu được khoảng 50 xe, do đó Minh thu mỗi tháng được khoảng từ 30 đến 40 triệu đồng, số tiền này Lai Em để Minh giữ, nhưng khai nào cần tiền thì Lai Em bảo Minh đưa và trung bình hàng tháng Minh đưa cho Lai em khoảng từ 5 đến 10 triệu đồng. Ngoài ra, Lai Em còn khai khi các nhà hàng khai trương thì Lai Em cho đàn em đến quậy phá, sau đó Lai Em đến dàn xếp và đòi tiền bảo kê. Cụ thể đã bảo kê cho khách sạn Phong Phú, Vy Vy,Việt Thanh, Việt Thanh và quán Hai Lúa, mỗi tháng thu 900.000 đồng.

Lê Văn Thơm (tức thơm “đui”) khai: Đã cùng với Trần Văn Minh đi thu tiền các ô cá như Minh đã khai, ngoài ra hàng tháng theo chỉ đạo của Trần Văn Minh, Thơm đã thu tiền ở ô Năm “mọi” thu 600.000 đồng/tháng, ô Hùng Nho thu 200.000 đồng/tháng, ô Mai thu 100.000 đồng/tháng. Hàng tháng Minh giao cho Thơm “đui” đi thu số tiền này về giao cho Minh, mỗi tháng Minh chia cho Thơm “đui” 200.000 đồng/tháng. Sau khi Minh bị bắt thì không thu nữa và thực tế Thơm đi thu khoảng tiềnnayf được 12 tháng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, ghi lời khai của những người bị hại, cúng như thu thập tài liệu, chứng cứ về hành vi phạm tội của các bị can. Nay đã có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị can như sau:

– Đối với Trần Văn Minh và Lê Văn Thơm

Cơ quan điều rea đã ghi lời khai của 31 chủ ô cá, các chủ ô cá đều xác định theo yêu cầu của cảnh sát khu vực và tổ dân phòng, trong đó có Trần Văn Minh thu mỗi tháng đã nộp 120.000 đồng cho nhóm Minh “cuội” gọi là tiền bảo vệ và nộp từ thời anh Phương làm cảnh sát khu vực cho đến nay. Mỗi xe ô tô khi vào chợ cũng phải nộp tiền cho Minh, xe lớn nộp 30.000 đồng, xe nhỏ nộp 20.000 đồng, nếu không nộp sẽ bị gây khó khăn như không cho xư vào sớm làm cho cá bị ươn khó bán. Các chủ ô cá đều xác định biết phải nộp các khoản tiền này là vô lý nhưng vẫn phải nộp vì sợ bị gây khó khăn trong việc buôn bán cá ở chợ.

Về 3 ô cá , Minh khai có thu tiền bảo kê riêng thì chủ ô cá Năm “mọi” khai ngoài số tiền 120.000 đồng phải nộp hàng tháng thì còn phải nộp cho Minh 300.000 đồng và nộp được khoảng 24 tháng, chủ ô cá Hùng Nho khai ngoài số tiền 120.000 đồng hàng tháng thì còn phải nộp cho Minh 200.000 đồng và nộp được khoảng 12 tháng, Chủ ô cá Mai khai chỉ nộp 120.000 đồng tiền bảo kê cho nhóm Minh, ngoài ra không phải nộp khoản tiền riêng nào cho Minh.

Các ông Phương,Biết , Hùng ( Cảnh sát khu vực phụ trách tổ dân phòng) cũng xác định đã chỉ đạo cho tổ dân phòng thu khoản tiền này theo thoả thuận với các chủ ô cá , rồi chia cho các anh em trong tổ. Việc thu và chi này hàng tháng đều trình báo cáo cảnh sát khu vực. Hiện nay, ông Ninh Văn Hùng – cảnh sát khu vực đã nộp cho ban chỉ huy công an phường Cầu Ông Lãnh 1 cuốn sổ “thu tiền bảo vệ ô cá”, Ban chỉ huy công an phường đã nộp quyển sổ này cho công an điều tra. Nội dung trong cuốn sổ phản ánh việc thu tiền hàng thángcuar các chủ ô cá và việc phát lương trong tổ dân phòng từ tháng 12.1999 đến 2.2002. Tháng thu nhập thấp nhât là 26 ô, cao nhất là 34 ô, khi nộp tièn các chủ ô đều kí vào sổ, số tiền thu được hàng tháng và chia cho 8 người là Trần Văn Minh (Minh “cuội”), Lê Văn Thơm (Thơm “đui”), Lâm Trung Phàn,Lê Văn Hùng, Nguyễn Kiểm Bình, Trần Văn Xinh, Lê Công Đông, Nguyễn Văn Long( có tháng chia 7 người, có tháng chia 6 người, nhưng Minh, Thơm, Phàn ,Hùng,Xính là cố định), tháng cao bọn Minh được hơn 600.000 đồng, tháng thấp bọn Minh được 300.000 đồng, Hàng tháng sổ được trình cho anh Hùng xem, có tháng anh Hùng ký, có tháng không.

– Xác minh tại công an và uỷ ban nhân dân phường Cầu Ông Lãnh xác định: Công an và Uỷ ban nhân dân phường không có chủ trương cho thu khoản tiền 120.000 đồng của các chủ ô cá và cũng không biết có việc thu khoản tiền này. Cảnh sát khu vực và tổ dân phòng của Minh đi thu khoản tiền này là sai. Hiện nay chỉ thu được danh sách phát lương năm 2000 và năm 2001 của Uỷ ban nhân dân phường Cầu Ông Lãnh, còn danh sách lương các năm 1999 trở về trước Uỷ ban nhân dân không thu được, vì lí do Uỷ ban nhân dân không lưu trữ vì các đồng chí lãnh đạo trước chuyển công tác không giao lại. Theo danh sách phát lương này thì hàng tháng Uỷ ban nhân dân phường Cầu Ông Lãnh đã trả lương cho mỗi dân phòng chuyên trách là 500.000 đồng: Trần Văn Minh (Minh “cuội”), Lê Văn Thơm (Thơm “đui”), Lâm Trung Phàn,Lê Văn Hùng, Trần Văn Xinh là dân phòng chuyên trách.

Về việc thu tiền bến bãi mỗi xe từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng, năm 1997 cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành Phố Hồ Chí Minh cũng đã điều tra xác minh và xác định trước đây thời đồng chí Phương là cảnh sát khu vực thì đồng chí Phương chỉ đạo cho đi thu tiền về để phát lương cho các tổ viên. đến thời điểm đồng chí Biết làm công an khu vực việc thu tiền xe có sự chỉ đạo của đồng chí Khoa là chủ tịch uỷ ban nhân dân phường lúc bấy giờ. Đến năm 1998 thì Uỷ ban nhân đan phường không cho tổ dân phòng thu nữa mà cử cán bộ phường đến thu đưa vào quỹ an ninh quốc phòng của phường.

Căn cứ vào lời khai của bị can Trần Đức Minh, Lê Văn Thơm, và lời khai của người bị hại thấy có đủ cơ sở xác định Minh và Thơm đã cưỡng đoạt tài sản của chị Lê Thị Lắm (Năm “mọi”) 7.200.000 đồng và của chị Đặng Thị Kim Nho là 2.4000.000 đồng bằng hình thức nhận bảo kê. Tổng số tiền đã cưỡng đoạt của chị Lắm và Nho là
9.600.000 đồng. Ngoài ra trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn phát hiện Minh và đồng bọn còn thu tiền các xe chở cá vào chợ, thu 120.000 đồng/tháng của các ô cá như đã nêu ở trên. Song thấy không đủ yếu tố cấu thnahf tội cưỡng đoạt tài sản mà hành vi này có dấu hiệu của tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản cần phải xem xét và xử lý. Do vụ án có rất nhiều bị can, thời hạn điều tra có hạn, mặt khác nhận thấy hành vi “lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” này không liên quan gì đến hoạt động phạm tội của Năm cam và có thể đưa xét xử sau như một vụ độc lập, do vậy cơ quan điều tra đã tách hành vi này để xử lý sau.

Trần Văn Minh và Lê Văn Thơm là dân phòng của phường Cầu Ông Lãnh, là những người được Uỷ ban nhân dân phường giao nhiệm vụ bảo vê an ninh trật tự của khu vực chợ cá. Song bọn chúng đã lợi dụng vị trí của mình thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của các hộ buôn bán cá tại chợ bằng thủ đoạn quậy phá, xin tiền, xin cá gây mất an ninh trật tự, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ, mất niềm tin vào chính quyền địa phương. Hành vi

của Minh và Thơm đã phạm vào tội cưỡng đoạt tài sản, tội danh được quy định tại khoản 2, điều 135 BLHS cần được xét xử nghiêm khắc.

Hành vi cưỡng đoạt tài sản của Dương Ngọc Hiệp

Bị can Châu Phát Lai Em khai: thoe chỉ đạo của Năm cam, Lai Em đã nhiều lần trực tiếp đưa Hiệp đến nhà hàng Phương Đông và đến vũ trường Metropolis để Hiệp nhận tiền bảo kê cho Năm cam. Khi đến nơi thì Lai Em ở ngoài để Hiệp vào trong nhận tiền bảo kê. Đấu tranh với Hiệp thì Hiệp không khai nhận hành vi này, cơ quan điều tra đã xác minh, ghi lời khai của nhà hàng Phương Đông và vũ trường Metropolis, nhưng các nhà hang và vũ trường đều không thừa nhận đã nộp tiền bảo kê cho Năm cam hoặc bất kể ai khác. Do đó , chưa có cơ sở kết luận Hiệp cưỡng đoạt tài sản của các nhà hàng, vũ trường này.

Mặc dù vậy nhưng hiện nay bị can Hứa Văn Em đã có đơn tố cáo Dương Ngọc Hiệp đã cưỡng đoạt của Hứa Văn Em khoảng 8 triệu đồng bằng hình thức đưa khách đến ăn, nghỉ tại khách sạn Phong Phú của Hứa Văn Em rồi không thanh toán tiền. Do Hứa Văn Em biết Hiệp là con rể Năm cam , một đối tượng giang hồ có tiếng nên không dám đòi tiền của Hiệp.

Đấu tranh với Hiệp thì Hiệp rất ngoan cố, khai báo quanh co, hiện nay Hiệp mới chỉ khai nhận là đã nhiều lần đưa bạn gái đến ăn, nghỉ ở khách sạn Phong Phú nhưng lại khai các lần này Hiệp đều thanh toán đầy đủ.

Với các tài liệu chứng cứ nêu trên thấy đủ cơ sở kết luận Dương Ngọc Hiệp phạm tội cưỡng đoạt tài sản, giá trị cưỡng đoạt tài sản là 8 triệu đồng, còn việc Hiệp khai đã thanh toán đầy đủ là nguỵ biện, ngoan cố để trốn tránh tội lỗi mà y gây ra. Hành vi này cần phải truy tố trước pháp luật, còn đối với hành vi thì không đủ cơ sở kết luận, nên cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an đã đình chỉ điều tra đối với bị can Dương Ngọc Hiệp về hành vi đánh bạc.

Sau khi Dương Ngọc Hiệp bị bắt giữ, cơ quan điều tra nhận được nhiều đơn thư tố cáo Hiệp là tay chân đắc lực của Năm cam, được Năm cam giao nhiệm vụ đi thu tiền bảo kê tại các nhà hang, vũ trường, các quán cà phê trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do sợ bị trả thù nên các điểm mà Dương Ngọc Hiệp thường xuyên đến thu tiền không dám tố giác hành vi phạm tội của chúng. Qua đấu tranh xét hỏi, Hiệp và đồng bọn rất ngoan cố, không chịu khai báo và nhận tội. Cơ quan điều tra chỉ có chứng cứ xác định Hiệp có hành vi cưỡng đoạt 8 triệu đồng của khách sạn Phong Phú bằn thủ đoạn đến ăn nghỉ nhưng không trả tiền. Hành vi của Dương Ngọc Hiệp đã phạm vào tội cưỡng đoạt tài sản, tội danh được quy định tại khoản 2, điều 135 BLHS cần được xét xử nghiêm khắc.

Đối với Châu Phát Lai Em

Trong 31 ô chủ cá chỉ có một chủ ô cá anh Văn Công Hoà khai: Lúc đầu đi thu tiền có Lai Em đi cùng với bọn Minh “cuội” đến từng ô cá bắt phải nộp tiền bảo vệ 120.000 đồng/tháng, còn các chủ ô khác không nhớ Lai Em hay không. Đã ghi lời khai của chủ ô cá Tâm, Hoa San, Ngọc, Năm “mọi”, Hồng Lệ, Hai Lệ là những ô cá mà Lai Em khai thu tiền bảo kê mỗi tháng một triệu đồng, thì các ô cá này đều khẳng định hàng tháng chỉ phải nộp tiền bảo vệ cho nhóm Trần Văn Minh chứ hoàn toàn không nộp tiền bảo kê cho Lai Em.

-Xác minh về khách sạn mà Lai Em đã khai nhận là bảo kê thì khách sạn Vy Vy, Việt Thanh, Việt Hùng và quán Hai Lúa đều xác định là không nộp tiền bảo kê cho Lai Em. Riêng chỉ có khách sạn Phong Phú là có đơn tố cáo Lai Em cưỡng đoạt tài sản bằng hình thức nhiều lần đến ăn, nghỉ ở khách sạn không trả tiền. Cụ thể vào năm 1995, khách sạn Phong Phú được đưa vào sử dụng , thời gian đầu không có việc gì xảy ra, nhưng sau đó có một số thanh niên đến quậy phá, làm cho không thể kinh doanh được nên Hứa Văn Em là chủ khách sạn phải nhờ Lai Em thu xếp. Sau khi được Lai Em nhận lời giúp, khách sạn không bị quấy phá nữa. Sau đó Lai

Em thường dẫn bạn dến khách sạn ăn , nghỉ nhưng không trả tiền, chủ khách sạn vì sợ nên không dám đòi, số tiền mà Lai Em ăn, nghỉ không trả khoảng 16 triệu đồng.

Hiện nay bị can Châu Phát Lai Em cũng đã khai dùng thủ đoạn cho một số đàn em đến quậy phá một số nhà hàng, khách sạn để các nhà hàng, khách sạnphair nhờ Lai Em can thiệp , thông qua việc này mà bắt các nhà hàng, khách sạn phải chi tiền bảo kê hàng tháng. Một trong những khách sạn mà Lai Em cho đàn em đến quậy phá để nhận bảo kê có khách sạn Phong Phú của Hứa Văn Em. Căn cứ vào đơn tố cáo của Há Văn Em , cũng như lời khai nhận của bị can Châu Phát Lai Em thấy đã có đủ cơ sở kết luận Châu Phát Lai Em phạm tội cưỡng đoạt tài sản, số tiền đã cưỡng đoạt là 16 triệu đồng, còn đối với nhà hàng, khách sạn khác không đủ cơ sở kết luận.

Châu Phát Lai Em là một tên tội phạm hình sự có nhiều tiền án, tiền sự về tội giết người, cố gây thương tích, có nhiều thủ đoạn chạy các cơ quan pháp luật để giảm nhẹ tội lỗi mà y gây ra. Do vậy, mỗi lần sau khi ra tù, y lại càng lộng hành hơn, táo bạo hơn. Quá trình điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ đã khẳng định Châu Phát Lai Em là một tên cầm đầu một số băng nhóm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” ở khu vực quận 1 dưới chướng của Năm cam. Đàn em của Năm cam bao gồm Hoà búa, Minh Hồ, Ngọc sọ não, Dũng sọ dừa, Minh đen… Mọi hoạt động của các đối tượng hình sự này đều phải đến xin phép ý kiến của y hoặc nhờ y đứng ra dàn xếp. Bọn chúng thực hiện hành vi bảo kê, cưỡng đoạt tài sản tại các khu vực chợ, khách sạn, nhà hàng, vũ trường trong quận 1. Hành vi của bọn chúng hoạt động trong thời gian dài, gây hoang mang, mất lòng tin đối với quần chúng nhân dân trên địa bàn rộng lớn tại trung tâm Thành Phố Hồ Chí Minh. Do bản tính côn đồ hung hãn nên quần chúng nhân dân ở khu vực này rất sợ hãi bọn chúng, vì vậy khi tiến hành điều tra về các hoạt động phạm tội của Lai Em và đồng bọn, nhiều nhân chứng , bị hại đều không dám tố giác các hoạt động phạm tội mà chúng gây ra. Do đó quá trình điều tra gặp nhiều khó khăn, cơ quan điều tra chỉ chứng minh được hành vi cưỡng đoạt tài sản của Lai Em tại khách sạn Phong Phú , chiếm đoạt 16 triệu đồng. Tuy số tài sản Lai Em chiếm đoạt có giá trị nhỏ, song thực chất Lai Em là một đối tượng nguy hiểm, tạo điều kiện cho đàn em dựa vào vị thế của Lai Em để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, hành vi cưỡng đoạt tài sản của Lai Em cần phải xử lí nghiêm minh trước pháp luật. Ngoài ra, cơ quan cảnh sát điều tra còn khởi tố các hành vi khác của Lai Em và đề nghị xử lí trước pháp luật.

Hành vi của Châu Phát Lai Em đã phạm vào tội cưỡng đoạt tài sản.

Hành vi cưỡng đoạt tài sản của Trần Văn Tâm

Qua đấu tranh khai thác, bị can Trần Văn Tâm đã khai nhận hành vi cưỡng đoạt tài sản của một số chủ vựa cá bằng hình thức đến xin tiền, xin cá. Nếu không cho thì Tâm sẽ quậy phá để không bấn được hàng. Đặc biệt, vào 1996 Tâm có đi thu tiền bảo kê của 8 chủ ô cá, mỗi ô 200.000 đồng, thu được một tháng thì bắt đi cai nghiện. Để làm rõ lời khai của Tâm, cơ quan điều tra đã ghi lời khai của 31 chủ ô cá thì có 9 chủ ô cá khẳng định đã bị Trần Văn Tâm cưỡng đoạt cá và tiền bằng hình thức đến xin, nếu không cho thì sợ Tâm quậy phá. Khi xin cá thì Tâm chỉ nói cho xin con cá rồi không cần chủ ô có đồng ý hay không , Tâm đã tự lấy (không nhớ bao nhiêu lần).

Lê Thị Kim Hùng khai: Tâm rất nhiều lần đến xin tiền, không xin cá (không nhớ bao nhiêu lần), Hà Thị Đạo khai: Tâm đến xin tiền , xin cá rất nhiều lần, lần cao nhất thì cho 100.000 đồng, lần thấp thì cho 20.000 đồng. Khi đến xin thì Tâm luôn nói “hôm nay muốn giết người” rồi sau đó mới xin (không nhớ bao nhiêu lần).

Nguyễn Thị Ngọc Nhạn khai: Tâm nhiều lần đến xin tiền, xin cá; mỗi lần xin tiền thì cho từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng (không nhớ bao nhiêu lần).

Nguyễn Văn Bình khai: Tâm đã nhiều lần đến xin tiền, xin cá nhưng không nhớ bao nhiêu lần.

Phạm Hữu Danh khai: Tâm đến xin tiền nhiều lần, mỗi lần cho Tâm từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Trần Văn Dũng khai: Tâm đến xin tiền nhiều lần, mỗi làn cho Tâm từ 40.000 đồng đến 50.000 đồng. Lê Văn Đậu khai: Tâm đến xin tiền nhiều lần, mỗi lần cho Tâm từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.
Bị can Trần Văn Minh là anh của Trần Văn Tâm cũng khai Tâm là một đối tượng nghiện hút, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, và thường hay quậy phá ở chợ. Để có tiền chi tiêu, Tâm đến các chủ ô cá xin tiền, các chủ ô cá sợ Tâm quậy phá nên phải cho, có vài lần Minh biết nên đã đuổi Tâm.

Với lời khai nhận tội của Tâm, kết hợp với lời khai của các chủ ô cá thấy Trần Văn Tâm đã dùng thủ đoạn đe doạ để cưỡng đoạt tài sản của 11 chủ ô cá ở Cầu Ông Lãnh. Hiện nay các chủ ô cá đều khai đã kinh doanh ở chợ hàng chục năm nay và đã nhiều lần Tâm đến cưỡng đoạt bằng hình thức xin đểu, mỗi lần Tâm đến xin thì các chủ ô cá ít nhất phải cho Tâm 20.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Như vậy có thể xác định số tiền mà Tâm đã cưỡng đoạt của các chủ ô cá lên đến hàng chục triệu đồng.

Tuy số tài sản mà Trần Văn Tâm chiếm đoạt không lớn,song hành vi của y đã diễn ra trong thời gian dài, thể hiện sự coi thường luật pháp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Hành vi phạm tội của Trân Văn Tâm đã phạm tội cưỡng đoạt tài sản, tội danh được quy địnhtại khoản 2, điều 135 BLHS cần được xử lý nghiêm mình.

Kỳ